|
Học giả Nguyễn Quảng Tuân trả lời:
Theo danh mục các dân tộc Việt Nam ban hành theo quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 2/3/1979 thì nước ta có 54 dân tộc đúng như ông biết. Tổng số dân theo kết quả kiểm tra ngày 1/4/2009 là 85.789.573 người. Dân tộc đông người nhất là dân tộc Kinh (khoảng 74 triệu người, chiếm trên 86% tổng dân số), tiếp tới là dân tộc Tày (khoảng 1.475.000 người), dân tộc Thái (khoảng 1.328.000 người), dân tộc Mường (khoảng 1.137.000 người), dân tộc Khmer (khoảng 1.055.000), dân tộc Hoa (khoảng 860.000 người), dân tộc Nùng (khoảng 856.000 người), dân tộc Hmông (khoảng 787.000 người), dân tộc Dao (khoảng 620.000 người), dân tộc Giarai (khoảng 317.000 người), dân tộc Êđê (khoảng 270.000 người), dân tộc Chăm (khoảng 133.000 người), dân tộc Sán Dìu (khoảng 126.000 người)…
Các dân tộc có số người dưới 100.000 thì gồm có: Ngái, Ba-na, Xơ-đăng, Sán Chay, Cơ ho, Hrê, Mnông, Ra-giai, Xtiêng, Bru Vân Kiều, Thổ, Giáy, Cơ-tu, Gié-Triêng, Mạ, Khơ-mú, Co, Ta-ôi, Chơ-ro, Kháng, Xinh-mun, Hà Nhì, Chu-ru, Lào, La Chi, La Ha, Phù Lá, La Hủ Lư, Lô Lô, Chứt, Mảng Pà Thẻn, Cơ Lao, Cống, Bố Y, Si La, Pu Péo, Brâu, Ơ Đu và Rơ-măm. Một nửa trong số các dân tộc kể trên chỉ có dưới 10.000 người và sống ở miền núi, vùng sâu, vùng xa ở miền Bắc, vùng Tây Nguyên và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Riêng các dân tộc Brâu, Ơ-đu và Rơ-măm chỉ có trên 300 người.
|