Phan Châu Trinh, nhà cổ động của chủ nghĩa dân chủ

25 Tháng Mười Hai 2012 3:39 CH
Trần Văn Giàu

Bookmark and Share

Hình ảnh của Phan Châu Trinh, nhà cổ động của chủ nghĩa dân chủ

LTS: Giáo sư Trần Văn Giàu, nguyên Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, nguyên Chủ tịch Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ, người đứng đầu cuộc khởi nghĩa giành chính quyền lịch sử ở Sài Gòn và Nam Bộ, góp công lao to lớn vào toàn bộ cuộc Cách mạng tháng Tám ở nước ta mùa thu 1945. Giáo sư cũng từng là một trong những giáo sư đứng đầu ngành đại học Việt Nam trong kháng chiến và trong hòa bình lập lại, là một nhà nghiên cứu sử học sâu sắc, biện chứng, hùng biện, sử trong văn, văn trong sử hấp dẫn bạn đọc một thời. Giáo sư là tác giả của hàng trăm công trình nghiên cứu mẫu mực cho sử học. Giáo sư đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, được phong Anh hùng Lao động của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được đặt tên một con đường lớn tại TP.Hồ Chí Minh. Là một học trò yêu quý của Hồ Chí Minh, giáo sư đứng bên linh cữu tiễn biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh về cõi vĩnh hằng và đã viết nên những trang sâu sắc, sáng trong, xúc động về tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nhân lần giỗ thứ hai của GS Trần Văn Giàu (24/11, tức 11/10 ÂL) Hồn Việt đăng sau đây bài Phan Châu Trinh – nhà cổ động của chủ nghĩa dân chủ, một tác phẩm sử học tầm cỡ của giáo sư, để bạn đọc tham khảo.

Khi Phan Châu Trinh chết thì Phan Bội Châu viết trong bài văn tế:

“… Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cường quyền trông gió cũng gai ghê;

Một ngòi lông mà trống mà chiêng, cửa dân chủ khêu đèn thêm sáng chói…

Trước đã giỏi mà sau thêm giỏi nữa, dấu cộng hòa xin ráng sức theo đòi;

Thác còn thiêng thời sống phải thiêng hơn, thang độc lập quyết ra tay vin tới”.

Huỳnh Thúc Kháng đọc ở buổi tang lễ: “Chúng tôi xin tóm tắt lại mà nói sơ: Chủ nghĩa tiên sinh đệ nhất là đánh đổ chuyên chế, làm dân quyền tự do, còn cái phương pháp tiến hành thì tiên sinh thường nói rằng: Tình hình trong nước ta bây giờ đang vào nguy ngập, nếu muốn cải cách thì phải liên lạc đoàn thể mới được”.

Trần Huy Liệu, chủ bút Đông Pháp thời báo, viết trong số ra ngày 9 tháng 4 năm 1926, bài Ta phải thương cụ Phan Châu Trinh bằng cách nào?; trong bài báo có đoạn: “Trước hết ta phải nối cái chí của cụ, theo đuổi cái việc làm của cụ. Anh em hẳn đã biết rằng cái chí nguyện bình sinh của cụ là muốn đạp đổ nền quân chủ, gây nền dân chủ để vì hai mươi lăm triệu đồng bào giải thoát cái ách chuyên chế nặng nề. Ngày nay cụ mất đi, cái tấm lòng của cụ còn di hận, cái mục đích của cụ còn chưa tới nơi… Cái còng áp chế, cái dây xích cường quyền hơn mấy nghìn năm vì một cái chữ “trung” vô nghĩa vô lý mà nó đã buộc chặt vào đầu, vào cổ dân ta đó, thì ngày nay ta quyết phá tan nó ra, dứt đứt nó đi… Cái lòng tức giận của ta hiệp với cái lòng thương cụ mà gây nên mãnh lực, gây nên can đảm, gây nên hùng phong, gây nên nhuệ khí; môt người thương cụ, mười người thương cụ, trăm người thương cụ, rồi hiệp cả những cái thương ấy mà làm một đội quân dân chủ phá tan cái thành đế chế kia, chắc hồn cụ dưới suối vàng thấy những hành động của cháu con như thế cũng phải mỉm cười mà rằng: Sướng chưa! Khoái chưa!”.

Những đoạn vừa được trích luận đều nói lên nội dung chủ yếu của tư tưởng chính trị cụ Phan Châu Trinh.

pic

Phan Châu Trinh

a)Phan Châu Trinh trước chiến tranh thế giới - “Thư gửi toàn quyền Bô”

Đề tựa quyển Truyện lược cụ Phan Tây Hồ của Ngô Đức Kế, Sào Nam viết: “Tôi còn nhớ ông sang Nhật tìm tôi, gặp nhau ở Bỉnh Ngọc Hiên tại Hoành Tân. Ông bảo tôi rằng: Cả nước ngủ mê, tiếng thở như sấm; bác ở ngoài muôn dặm kêu gào, hò hét, có được công dụng bao nhiêu, tất phải nhờ có người ở trong gõ trán, xách tai mà đánh thức dậy, thời họa chăng lòng người không đến đỗi chết hết. Nay tôi về làm Ma Chi Ni (Mát-di-ni)(1), còn bác ở ngoài làm Gia Lý Bà Đích (Ga-ri-ban-đi)(2), chia hai đường mà cùng đi tới, chúng ta lấy cái chết thề cùng nhau có thủy có chung”.

Về sau có người sẽ nói: Hai cụ Phan “tương phản nhi tương thành”, một người chú trọng chống Pháp vì dân tộc, một người chú trọng chống triều đình vì dân chủ. Nhưng nếu tìm trong văn bản được công bố thì ít khi thấy hai cụ “phân công” với nhau mà thường thấy hai cụ xung đột tư tưởng với nhau, sự xung đột tư tưởng đó đã bộc lộ rõ trong tác phẩm dài đầu tiên của Tây Hồ là Thư gửi toàn quyền Bô viết năm 1907.

Có mấy điều, về mặt tư tưởng, cần phải được chú ý trong thư:

Thứ nhất: Thư gửi toàn quyền Bô không nhằm bóc trần chế độ thực dân, lên án nó, mà đây là ông thự trước tác, hậu bổ “đến cửa quan bảo hộ, phơi gan trải mật, rỏ máu kể rõ cái thủ đoạn tàn ngược của quan trường cùng là cái tình trạng thảm khổ của cùng dân, khiến cho tội ác của quan lại và cái khổ cảnh của quốc dân trong mấy năm nay lọt vào tai các quan bảo hộ”. Mục đích của thư là như vậy. Theo bức thư thì lâu nay các quan bảo hộ “bị quan trường (bản xứ) bưng bít không cho biết thực trạng và dân tình”, cho nên không biết rằng ngày nay đất nước và dân tộc Việt Nam “tối tăm mù mịt”, “mềm yếu ươn hèn”, “sự thế hư hỏng”, “nhân dân lìa tan”, “phong tục suy đồi”, “lễ nghi bại hoại”, “một dân tộc hơn hai mươi triệu người sắp sửa ở cái địa vị bán khai mà quay về với cái địa vị dã man”, “nước Nam bây giờ như một người ốm nặng, gần chết, không có thuốc mà cứu chữa được nữa”. Pháp bảo hộ bị quan trường bưng bít nên không biết nhìn điều đó, chớ nếu có người trình bày cặn kẽ thì “các quan bảo hộ nghe thấy cũng xót ruột đau lòng”, “cho là làm phải mà không nỡ cự tuyệt”.

Có mấy đoạn dường như công kích chủ nghĩa thực dân, nhưng xét ra thì không phải. Chính cụ Tây Hồ nói rằng mình chỉ công kích sự ngược đãi của người Pháp: “Hiện nay, người Nam, trừ những người trong quan trường không kể, còn ra thì không luận người khôn kẻ ngu, trăm miệng một lời đều nói rằng chính phủ ngược đãi người Việt Nam, không coi người Việt Nam như người để đối đãi. Thấy quan lại nước Nam không săn sóc đến dân mà lại tàn ngược với dân, thì nói rằng chính phủ có ý dung túng khiến cho cắn nuốt lẫn nhau, cho nòi giống mòn mỏi, đó tức là cái kế của chính phủ”. Tây Hồ thấy ba nguyên nhân của tình trạng ấy: Một là chính phủ bảo hộ dung túng quan lại Việt Nam, thành ra “cái tệ cô tức”; hai là chính phủ bảo hộ khinh rẻ sĩ dân Việt Nam, thành ra “cái tệ xa cách”;  ba là quan lại Việt Nam nhân cái tệ xa cách và cái tệ cô tức ấy mà hà hiếp dân, để dân cho là tại chính phủ bảo hộ, chớ còn như “từ khi Pháp sang bảo hộ nước Nam đến nay, những việc bắc cầu, đắp đê, sửa sang đường sá, xe lửa và tàu thủy chạy khắp nơi, cùng là lập ra bưu chính để thông báo tin tức, đều là lợi ích cho nước Nam, người ta ai cũng thấy cả”. Sở dĩ người dân nَi tất cả hủ tệ “tại Pháp” là vì nhân dân hiểu lầm, mà sĩ phu nước Nam cũng hiểu lầm nữa. Sở dĩ nước Nam bây giờ gần thành như người ốm gần chết khó có thuốc cứu chữa, ấy là “tội của sĩ phu nước Nam, mà gây nên tội ấy thì cũng bởi hiểu lầm rằng chính phủ bảo hộ dùng chính sách ngược đãi nước Nam làm chính sách hay nhất”. Theo Phan Châu Trinh, người Pháp bảo hộ không phải là không có khuyết điểm; khuyết điểm của người Pháp bảo hộ, theo Phan Châu Trinh, một là để “mặc kệ cho hư nát không thèm hỏi đến”; hai là khinh thường đánh đập người Việt Nam, ví người Nam với bò, lợn, không muốn đặt ngang hàng với mình, sợ dơ bẩn; ba là, và đây là điểm lớn nhất theo Phan Châu Trinh, “dung túng quan lại Việt Nam”, chỉ đặt quan to ở trên cao mà trông chung chớ không nắm tình hình bên dưới, nếu người Pháp bảo hộ mà hiểu được, nắm được tình hình bên dưới “thì quan lại còn thò ngón gian vào đâu nữa”.

Tìm đâu cũng không thấy Tây Hồ nhận ra rằng đối lập chính là đối lập giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp. Tìm đâu cũng không thấy Tây Hồ công kích bản chất của chế độ thực dân, chỉ thấy cụ phê phán một số chính sách thực dân, phê phán rằng chính phủ bảo hộ không làm hết sứ mệnh bảo hộ, phê phán người Pháp khinh miệt người Việt Nam, do đó cụ yêu cầu người Pháp, người Nam phải tôn trọng nhau, gần gũi nhau, giúp đỡ nhau. Đó là một điểm cốt yếu của chủ nghĩa “Pháp – Việt đề huề”; ngay cả khi chủ nghĩa đó chưa được đặt tên là “Pháp – Việt đề huề” – một tư tưởng chính trị cải lương chủ nghĩa gieo rắc ảo vọng trong nhân dân. Cuối thư, Phan Châu Trinh đề ra một chương trình cải cách nhằm đạt sự bình trị lâu dài: “Chính phủ bảo hộ quả thật có thay đổi chính sách, kén chọn kẻ tài năng, trao cho quyền bính, lấy lễ mà đãi, tỏ rõ lòng thành, cùng với họ bàn mưu lập kế để hưng lợi trừ hại, mở đường sinh dưỡng cho dân nghèo, trao quyền nghị luận cho thân sĩ, rộng quyền báo chí để thấu dân tình, phân minh thưởng phạt để trừ hại tệ, ngoài ra như sửa đổi pháp luật, bãi bỏ khoa cử, chấn hưng học hiệu, đặt dựng thư cục, đào tạo sư phạm, cho đến học công thương, khoa kỹ nghệ, pháp thuế dịch, không có cái gì là không lần lượt cải lương, thì người dân đều yên làm ăn, kẻ sĩ phu đều vui phục vụ. (Khi ấy) chỉ sợ nước pháp bỏ nước An Nam mà đi (chớ) còn ai xem nước Pháp là kẻ thù địch nữa”. Tây Hồ đặt vào lòng độ lượng của Pháp cái “hy vọng cải tử hoàn sinh” cho nước Nam, cái “chính sách trường cửu xem Tây, Nam như một”.

Thế là cụ không rõ bản chất của đế quốc thực dân, cụ mơ hồ về nó. Cụ không hề đặt vấn đề đánh đổ Pháp, không nhằm mục đích ấy để mà đề ra chương trình cải cách. Chính đó là một đặc điểm của chủ nghĩa cải lương. “Nói chung thực chất của chủ nghĩa cải lương là ở chỗ người ta chỉ cổ động để thực hành những sự cải tiến mà không đòi tiêu diệt những cơ sơ chủ yếu của giai cấp thống trị cũ, thực hành những sự cải tiến phù hợp với sự duy trì những cơ sở đó”.

Thứ hai: Mũi nhọn của sự công kích nhằm vào quan lại Nam triều là chính, không thấy công kích triều đình Huế và nguyên lý quân chủ.

Cụ Tây Hồ công kích quan lại một cách dữ dội, nhưng cụ không thông qua sự công kích ấy để mà công kích chủ Pháp của chúng, cũng không thông qua sự công kích bọn ấy để mà công kích triều đình Huế là cái gốc, cái thân, mà quan lại là cành, là lá. Cho nên có người nhận xét tính chất phản phong của bức thư cũng ít ỏi gần như tính chất phản đế của nó. “Trong khoảng vài mươi năm nay, các bậc đại thần ăn đầm nằm đìa ở chốn triều đình, chỉ biết chiếu lệ cho xong việc; quan lại ở các tỉnh thì chỉ lo cho vững thần thế mà hà hiếp bóp nặn chốn hương thôn, đám sĩ phu thì ganh đua nhau vào con đường luồn cúi hót nịnh, không biết liêm sỉ là gì; bọn cùng dân bị bóp nặn mãi mà máu mủ ngày một khô”.

Tình trạng xã hội Việt Nam bi đát như thế, vận nước Việt Nam ngày một suy như thế, theo nhận định của Phan Châu Trinh, ấy là do quan lại Việt Nam tham nhũng, lười biếng, bất tài, vô liêm sỉ, quen nịnh hót bề trên và hà hiếp phía dưới, cho nên: “Suốt cả thành thị cho đến hương thôn, đứa gian giảo thì như ma, như quỷ, lừa gạt, bóc lột, cái gì chẳng dám làm; đứa hèn yếu thì như lợn, như bò, bị giẫm cổ đè đầu cũng không dám ho he một tiếng. Cả mấy muôn triệu người như một đàn ruồi, lũ kiến không còn chút nhân cách nào”.

Phan Châu Trinh công kích quan lại một cách dồn dập, mạnh mẽ, như tát vào mặt hết chậu nước này đến chậu nước khác to hơn, như nện vào lưng hết chập gậy này đến chập gậy khác nặng hơn, đã bao chục năm rồi mà nay hễ đọc tới hãy còn thấy khoái trá, thú vị: “Các quan phủ huyện chọn thằng dân nào béo thì ăn, từ việc trộm cướp, kiện cáo án mạng cho đến các vệc vặt khác, việc gì cũng bóp nặn để lấy tiền. Phàm sầu khổ ở dân gian tức là mối lợi to của quan lại. Không cứ việc gì lớn nhỏ, việc hoãn việc cấp, hễ nắm được một mảnh giấy của quan bảo hộ thì họ quý như hòn ngọc, coi như bùa hộ thân, vì nhờ đó mà thu được nặng túi”.

Vì sao mà quan lại coi nhân dân như cá thịt, cho những việc hưng lợi là phản nghịch? Phan Châu Trinh không tìm ra nguyên nhân ở bản chất thực dân, phong kiến của bộ máy nhà nước mà tìm thấy nguyên nhân ở “cái tệ xa cách”, nghĩa là ở chỗ Nhà nước bảo hộ Pháp chỉ đặt người ngồi ở cao để trông  nom chung chung. Thế nghĩa là gì? Nghĩa là nếu Pháp trực tiếp nắm cả bộ máy từ trên xuống dưới thì quan lại sẽ bơ mõm, tham nhũng sẽ tuyệt gốc? Còn có ảo tưởng nào lớn hơn?

Thứ ba: Phan Châu Trinh tố cáo, phản đối chủ trương của những ai định dùng phương pháp bạo động cách mạng và đi cầu viện nước ngoài để khôi phục độc lập.

Năm ngoái (năm trước khi cụ Tây Hồ viết thư này), hai cụ Phan gặp nhau ở Nhật; hai chủ trương chọi nhau; chúng ta đã nói trong một chương trước. Cuộc thảo luận nội bộ giữa hai chí sĩ bây giờ lại xuất hiện trong Thư gửi toàn quyền Bô làm như là Tây Hồ muốn xác định tư tưởng ôn hòa, cải lương của cụ cho chính phủ bảo hộ rõ: “Lại xét biết chí mình không đủ chống được, thì lại nghiêng cổ, giương mắt mong các nước mạnh ở đâu đấy hoạ may họ đến cứu mình chăng? Chao ôi! Một dân tộc đến hai mươi triệu người, kẻ có học thức cũng có vài mươi vạn, mà tối tăm mù mịt, mềm yếu ươn hèn, không đủ sức bênh vực được nhau để liệu cách sinh tồn, lại ù ù cạc cạc không biết rằng mình ở vào cái thế giới cường quyền thịnh hành “mạnh được yếu thua” này mà còn mơ tưởng hão huyền như thế, dân trí thực cũng đáng thương! Nhưng đã bao nhiêu năm nay, người Nam ở dưới bóng cờ nước bảo hộ, mà đến bây giờ nòi giống ngày một yếu hèn, không còn kế gì cứu vớt nhau, đến đỗi nóng nảy điên khùng, theo cái kế đê mạt, chỉ trông cậy vào nước khác, thế thì vì ai mà nên nỗi thế?”.

Đoạn này hẳn là dành cho phái cụ Phan Bội Châu và Duy tân hội.

Phan Châu Trinh bảo Chính phủ Pháp hãy yên lòng, đừng sợ, đừng ngại những người chủ trương bạo động cách mạng, bởi vì Việt Nam giống như một kẻ tàn phế không trèo tường ăn cắp được, như đứa trẻ lên ba không đốt nhà, giết người được: “Nước Nam gần đây, học thuật không mở mang, phong tục thì hư hỏng, liêm sỉ đã mất hết, kiến thức cũng bịt bùng, trong khoảng một làng, một xóm mà cá thịt lẫn nhau, trong họ hàng ruột rà mà không khỏi xem nhau như cừu thù, nhất đán mà có chí khác thì không có đất đai mà dựa được, không có súng ống mà cậy được, không có của cải mà cung được; giả sử chính phủ bảo hộ cho mượn mấy nghìn khẩu súng, khoanh cho một vùng mấy tỉnh, rồi cho tự giữ gìn lấy, không hỏi han gì đến, chưa đầy vài năm sau, nếu không báo thù lẫn nhau thì cũng tranh nhau hơn kém, nếu không cướp đoạt tiền của thì cũng giành giật địa vị, họ tất sẽ tự tàn sát lẫn nhau cho đến chết mới thôi. Quyết họ không thể sinh tồn một ngày ở thế giới ngày nay được. Như vậy thì còn bàn gì đến đối địch với ai nữa”.

Phan Châu Trinh đánh giá dân tộc và chí sĩ Việt Nam như vậy. Nếu thế thì nước ta làm sao có thể tự lập được? Nếu không tự lập được thì tất nhiên phải nhờ nước Pháp bảo hộ, giáo dục cho đã. Đó là ý kiến của Tây Hồ! Nói như vậy có “oan” cho cụ không? Trong Thi tù tùng thoại, cụ Huỳnh Thúc Kháng nhắc chuyện ở Côn Lôn, có ghi lại lời của cụ Phan Châu Trinh ngoài đảo: “Người nước Nam chịu nép dưới chính thể chuyên chính đã trên nghìn năm, chưa có tư cách quốc dân độc lập”. Lạ quá! Một nghìn năm độc lập tự chủ mà lại làm ra cái không có tư cách quốc dân độc lập nghĩa là sao? Chúng ta biết rằng không những ở Thư gửi toàn quyền Bô mà trong Tỉnh quốc hồn ca, cụ Phan Châu Trinh cũng đánh giá đồng bào ta thấp kém tệ hại như thế.

Có biết nội dung tư tưởng của Thư gửi toàn quyền Bô thì mới rõ được sự phát triển của tư tưởng Phan Châu Trinh sau chiến tranh thế giới.

b) “Thất điều thư” (1922)

Ở Pháp (sau khi được tha khỏi Côn Lôn), Phan Châu Trinh có Thất điều thư, là tác phẩm chính biểu hiện tư tưởng của cụ một cách mạnh mẽ, đầy đủ. Mạnh mẽ, đầy đủ vì ở Pháp được tự do ăn nói hơn là ở Việt Nam; đối thủ của cụ, vua Khải Định, lại là tên vua hèn hạ, kiều bào ai cũng ghét. Khi ấy Khải Định sang Pháp.

Sau đây là mấy nét tư tưởng đặc sắc trong Thất điều thư.

Thứ nhất: Phan Châu Trinh công kích vua Khải Định một cách hết sức mãnh liệt, vì qua đó mà công kích quân quyền độc đoán.
Thật là sướng tai, hả dạ khi thấy Phan Châu Trinh đóng lên trán nhà vua mấy chữ “hôn quân”, “dân tặc” và biết bao nhiêu mũi tên khác nữa. Trong Thư gửi toàn quyền Bô, Phan Châu Trinh công kích quan trường mà chưa công kích chế độ quân chủ, lần này vua và chế độ quân chủ là mục tiêu của lời văn sấm sét. Ta chú ý rằng, để hạ Khải Định, cụ Tây Hồ vừa ỷ vào tư tưởng Khổng, Mạnh, vừa ỷ vào nước Pháp văn minh: “Ngày nay, bệ hạ sinh ở cái nước Nho giáo, làm ông vua trong thế kỷ XX, dưới quyền bảo hộ của nước Pháp, vậy mà tự mình như thần, như thánh, ngồi trên đầu, trên cổ nhân dân mà không biết ngượng ngùng gì, rõ ràng là bội nghịch với giáo nghĩa của ông Khổng, ông Mạnh, trái với cái văn minh của thế giới, thì không những là dân nước Nam không dung mà chắc nước Pháp cũng đem lòng giận”.

Phan Châu Trinh lên án Khải Định:

“ - Đã đặt vào tả hữu vua những thằng bạn cố giao chó chết đã cùng mình ngày trước vui chơi nơi xóm liễu vườn hoa, rong ruổi các đầu đường xó chợ.

- Đã giữ mãi tục xấu quỳ lạy, đem tục quỳ lạy đó qua tận bến tàu Mác-xây cho người nước ngoài họ khinh và làm mất danh dự chung của quốc dân, ai cũng lấy thế làm tủi nhục, “duy có bệ hạ lấy đó làm hãnh diện”, như vậy là “chí ngu”, chớ nào phải “chí tôn”.

- Đã bóc lột dân đen đến xương tủy để xa xỉ một cách dại dột. “Đất nước Việt Nam có phải của riêng bệ hạ đâu, nhân dân Việt Nam có phải đầy tớ riêng bệ hạ đâu! Bọn quan lại rút của dân đã chán rồi, bệ hạ lại đào khoét thêm vào. Máu mủ Việt Nam chưa hết nên bệ hạ còn hút cho đã phải không? Cái danh hiệu nước Việt Nam còn chưa được nhơ nhớp nên bệ hạ phải làm xấu thêm nữa để người ngoại quốc trông vào chê cười, khinh thị phải không?”.

Vì vậy Phan Châu Trinh cảnh cáo đồng bào: “Ôi! Nước ta có tội gì mà phải chịu cái nghiệp báo ấy? Dân ta có tội gì mà gặp phải cái thứ vua quỷ ấy? Nếu không tìm cách mà trừ bỏ đi, thì cũng đến chết theo cái loài yêu quái ấy mà thôi!”.

Phan Châu Trinh nhiều lần dùng đến cả những chữ “giết đi”, “phanh thây” để định tội Khải Định. Có chỗ cụ như tuyên chiến với quân chủ chuyên chế và tham quan ô lại, kêu gọi quốc dân hiệp sức “nhổ đến tận gốc, lấp cho đầy nguồn, ra tay quét sạch sành sanh”, nếu không làm như vậy thì quốc dân ta không có ngày trông thấy mặt trời nữa. Tuy rằng nhờ đứng trên đất Pháp, Phan Châu Trinh mới có thể tuyên chiến dữ dội đến thế với Khải Định và quân chủ, nhưng ngay ở trên đất Pháp, cũng phải là bản lĩnh Phan Châu Trinh thì mới có bức thư tuyên chiến này.

Lời lẽ định án xem như cách mạng lắm, nhưng xét cho cùng ấy là nhát búa tạ giáng không trúng chỗ chính. Một ông vua bù nhìn, một triều đình bị thực dân “bảo hộ”, chỉ có mấy tên lính khố vàng, mấy quan đại thần “ăn đầm, nằm đìa”, vua không có quyền nào ngoài quyền ban các sắc thần, thì còn gì cái nội dung và hình thức của quân chủ chuyên chế nữa? Mọi việc cai trị đều do Pháp cả. Pháp nắm chặt bộ máy quan lại, bộ máy đàn áp bóc lột. Chính quyền Pháp mới đích thực là kẻ chuyên chính, mà triều đình Huế là tay sai. Triều đình Huế đáng ghét thật, đáng bị tiêu diệt thật, nhưng không thể tách rời nó với chủ của nó là Pháp, chính Pháp là kẻ cần phải đánh đổ với tay sai của nó là triều đình Huế.

Thứ nhì: Một đặc điểm trong tư tưởng Phan Châu Trinh ở đây là dựa vào Nhà nước Pháp dân chủ cộng hòa để chống với quân chủ chuyên chế Huế và thực hiện cải cách tiến bộ trong nước ta.

Mọi tệ lậu đều gốc ở quan lại và Nam triều, không phải do Pháp xâm lược và thống trị. Phan Châu Trinh tỏ lòng khâm phục nước Pháp đã tha cụ khỏi ngục Côn Lôn, còn kẻ đàn áp cuộc chống sưu thuế năm 1908 là triều đình, triều đình bắt và kết án cụ rồi đày cụ đi Côn Lôn: “Trinh sở dĩ còn được chút sống thừa, đều nhờ cái văn minh của dân tộc Pháp cả”. Chẳng những thế, Phan Châu Trinh nhận định một cách rất kỳ lạ rằng chính là nhờ có nước Pháp bảo hộ, nếu không thì dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam không biết còn suy yếu đến mức nào nữa: “Đến nay, thế nước càng ngày càng suy, đến nỗi sụt xuống bậc cuối cùng, nếu không núp dưới quyền bảo hộ của nước Pháp thì ngày nay không biết đã trụy lạc xuống vực sâu hang thẳm nào”. Vậy thì Việt Nam phải đội ơn Pháp tới cai trị mình! Vậy thì chế độ thực dân đã chẳng phải là vực sâu hang thẳm, mà ngược lại! Quái gở thay! Mà chính đó là câu văn lời nói của Tây Hồ. Phan Châu Trinh lại tin, lại mong rằng mình có thể dựa vào Pháp, cậy nhờ Pháp mà tuyên chiến với Nam triều. Hãy nghe: “Nếu bệ hạ còn một chút thiên lương mà biết hối ngộ ra, tin rằng quân quyền không có thể cậy được, dân quyền không thể đoạt được, mau mau hãy quay đầu lại mà thoái vị đi, đem chính quyền giao trả lại cho quốc dân để quốc dân trực tiếp ngay với Chính phủ Pháp mà làm công việc mưu lợi ích sau này. Vậy thì may ra quốc dân còn thương cái lòng mà tha cái tội đi. Ấy là kế sách của bệ hạ ngày nay không còn gì hơn nữa. Chớ ví bằng thói cũ không chừa, choán cái ngôi chí tôn ra ngôi chuyên chế, hãm ghìm quốc dân xuống cái vực sâu hang thẳm đời đời, thì Trinh này sẽ bố cáo với quốc dân và thương thuyết với Chính phủ Pháp lãnh mệnh hai mươi triệu đồng bào Việt Nam, cùng với bệ hạ tuyên chiến một trận ác liệt, hễ cái ngày nào đầu Trinh này rơi xuống đất tức là cái ngày quân quyền của bệ hạ chìm xuống đáy sâu, kẻo lại trách rằng Trinh không báo trước”.

Nghe sướng tai thật. Nhưng chỉ có sướng tai thôi, chớ phương lược chiến đấu chẳng những là ảo tưởng mà còn nguy hại.

Hồi ở Côn Lôn, tư tưởng phản đối Pháp của Phan Châu Trinh cũng y như vậy. Trong Thi tù tùng thoại, Huỳnh Thúc Kháng kể lại lời của Phan Châu Trinh với anh em: “Nước Pháp là một nước làm tiền đạo văn minh của hoàn cầu, nay hiện bảo hộ nước ta, mình nhân đó mà học theo, chuyên tâm về mặt khai trí trị sinh các việc thực dụng; dân trí đã mở, trình độ ngày một cao, tức là cái nền độc lập ngày sau ở đấy”.

Cuộc đời chính trị của Tây Hồ in dấu một ảo mộng dài về nước Pháp “tiền đạo văn minh của hoàn cầu”.

Thứ ba: Về lý thuyết, Phan Châu Trinh tuyên bố rằng cụ đứng trên lập trường của tư tưởng Khổng, Mạnh để mà công kích quân chủ chuyên chế; cụ không đứng trên lập trường tư tưởng cách mạng tư sản dân chủ để làm việc phê phán ấy: “Trinh là người theo Khổng giáo nên không theo cái lệ phép chuyên chế đặt ra từ hồi Tần Thủy Hoàng về sau”, và: “Bệ hạ cứ giở các sách ngũ kinh, tứ thư ra mà coi có câu nói nào làm cái chứng tôn quân được không? Vì cái địa vị của mình ở trên muôn người thì cái tấm lòng của mình phải ở dưới muôn người, ấy là tinh thần của Nho giáo đó”.

Có lẽ cụ Tây Hồ lúc ấy, mà không phải chỉ có cụ, nhiều nhà Nho cũng thế, chưa nhận thức ra rằng “đức trị” tức là một bộ phận cơ sở tư tưởng cho chuyên chính, cho độc tài cá nhân; mà đức trị là một đặc điểm lớn của trị đạo Nho giáo. Lựa gì phải đợi đến Tần và các triều đại sau mới có chuyên chính?

(Còn tiếp)

ĐẶNG MINH PHƯƠNG sưu tầm

(Trích Tổng tập Trần Văn Giàu, tập 3, NXB Quân Đội Nhân Dân, 2008)

_______

(1) (2) Những nhà yêu nước trong lịch sử cận đại của nước Ý có công trong việc thống nhất nước Ý.

* Chữ 周,miền Bắc đọc Chu, miền Nam đọc Châu (kiêng húy chúa Nguyễn Phúc Chu). Cụ Phan, tên khai sinh và tên gọi trên giấy tờ là Phan Châu Trinh (con là Phan Châu Dật, Phan Thị Châu Liên…), nên đúng ra ta phải đọc là Châu. Phải sửa cách đọc quen thuộc theo phiên âm chữ Hán ở miền Bắc, và phải sửa tên đường, tên trường học… theo đúng âm gốc đã tồn tại. Không thể một tên người mà đọc theo hai cách. Trong bài này, chúng tôi dùng Phan Châu Trinh. (Hồn Việt)

Nhận xét
  • PArner Honvietquochoc
  • Viet nam air
  • free hit counter script