Dọc đường văn học

Thơ vịnh Kiều của Chu Doãn Trí

Vào những năm đầu của thập kỷ 60 thế kỷ trước, tôi có dịp đi tìm hiểu về văn hóa cổ truyền trong khu vực Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội. Tới nhà một cụ, tôi đã ghi lại được bài thơ chữ Hán viết tay trên trang đầu một quyển viết chữ Nôm in trên ván khắc gỗ thời Tự Đức. Cuối bài ghi tên tác giả Dục Tú Trưng Quân.

Thơ văn Trần Nhật Thu

Trần Nhật Thu (1945-2008) mất đã một năm, để lại hàng chục tập thơ, văn, tiểu luận. Thơ của anh từng được Chế Lan Viên đề tựa biểu dương: “Con mắt của cánh buồm” là một tập văn xuôi đặc sắc. Anh nhìn cảnh vật, con người vùng cát Quảng Bình qua đôi mắt trẻ thơ, đôi mắt thơ; và văn đẹp như thơ, đúng là “Nhà thơ bị đóng đinh trên thánh giá văn xuôi”.

Thơ Tuân Nguyễn

Nhà văn Trần Phương Trà đã làm một nghĩa cử là sưu tầm và công bố những bài thơ của Tuân Nguyễn. Một anh bộ đội Cụ Hồ thời kháng Pháp, một giáo viên Văn trường Học Sinh Miền Nam, một biên tập viên văn nghệ của Đài Tiếng Nói Việt Nam… Và rồi một “tai nạn nghề nghiệp” ập đến, cắt đứt anh với cuộc sống bình thường mà anh yêu quý thiết tha trong vòng 9 năm! Anh yêu thơ, yêu Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên, yêu Lửa thiêng của Huy Cận, quý bạn bè và hi vọng, hồn nhiên, ngây thơ nữa… Và anh gặp số phận của các nhân vật Dôtxtôiépxki, thiên tài mà anh ngưỡng mộ…

… Trở lại cuộc đời và kết nối với nhà thơ Phương Thúy, sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, anh dịch sách, mưu sinh, xây lại cuộc đời… Nhưng một tai nạn đã cướp anh đi… để lại trong mọi người bao tiếc thương đối với một con người nhân hậu, tài hoa, nhiệt thành…

Tạp chí Hồn Việt xin giới thiệu một số bài thơ của anh Tuân Nguyễn trích từ tập Nhớ Tuân Nguyễn (Nxb Hội Nhà Văn – 2008).

Thơ Trần Vàng Sao

Một ngày mùa thu năm nay (2009), trên bờ sông Hương, gần 50 anh chị em nhà văn, nhà nghiên cứu Huế đã gặp gỡ Hồn Việt. Và trong cuộc gặp gỡ thân tình ấy, lần đầu tôi gặp Trần Vàng Sao. Trước năm 1975, anh có ra Bắc, nhà tôi lúc ấy làm Biên tập viên Nhà xuất bản Giải Phóng, có gặp anh, mang về những bản thảo chép tay của các anh chị ở núi rừng Trị Thiên… và nhờ đó tôi đã “làm quen” với các anh chị qua văn chương… Trần Vàng Sao xuất hiện ít, cuộc đời cũng “ở không yên ổn, ngồi không vững vàng”; nét mặt anh giờ “phong trần” sau bao năm tháng. Thế nhưng, ai đã đọc Bài thơ của một người yêu nước mình (viết 1966, lúc anh còn trong thành Huế, chưa “lên xanh”) thì đều thừa nhận rằng đó là một bài thơ hay hàng đầu của thơ Việt Nam hiện đại. Từ hình ảnh, tứ thơ, nhịp điệu, trùng điệp… nó đều khác, đều mới với thơ đương thời, nó gần với văn xuôi nhưng vẫn thơ, vẫn quyến rũ và bắt người ta đọc đi đọc lại. Một đời làm thơ, kể có được một bài như thế, cũng đã là một niềm an ủi lớn… Rồi đây, mọi sự đều qua, câu thơ hay, bài thơ hay còn lại…

MAI QUỐC LIÊN

Thơ Trần Sĩ Tuấn

Trần Sĩ Tuấn vốn là một bác sĩ huyết học, say mê làm báo đến nỗi anh cùng với một người bạn làm báo “tư”, rốt cục 2 số hết vốn. Làm báo Sức Khỏe & Đời Sống là hợp sở trường, nhưng làm mãi 20 năm, rốt cuộc cũng nhàm chán! May mắn là anh còn có thơ. Thơ, cái bầu sinh quyển rất riêng ấy đã làm anh dễ thở để sống, yêu, làm việc, hy vọng… Thơ anh được cái là có tứ, có chiều sâu và diễn đạt hiện đại mà không “lố”. Cái chính là cái tâm, là cảm xúc, là tâm trạng có thực.

Thơ Thanh Quế

Có một nguồn ánh sáng dịu dàng trong thơ Thanh Quế. Không chói lọi rực rỡ, đây là nguồn trong của tình thương, của điều thiện. Nguồn trong ấy, lọc ra ngay từ khói lửa chiến trường, từ những số phận khắc nghiệt trong và sau khi ngừng bom đạn. Nơi nguồn sáng trong dịu kia ta thầm nghe nhiều nỗi nghẹn ngào. Chỉ thi sĩ mới dai dẳng nỗi đau lâu đến thế. Bởi đến tận năm 1997, Thanh Quế vẫn dõi theo trong tiềm thức:

Thơ Rabindranath Tagore

Ấn Độ là một đất nước vĩ đại với lịch sử vĩ đại và bí ẩn của mình. R.Tagore là sự kết tinh của văn hóa Ấn Độ và văn hóa hiện đại phương Tây, đó là một giọt nước, một giọt lệ trong phản chiếu toàn bộ Ấn Độ.

Thơ Phan Duy Nhân

Tôi đọc Học phí trả bằng máu của Nguyễn Khắc Phục viết về một thời máu – nước mắt – kiên cường… của Quảng Nam, quê tôi, và gặp hình ảnh người thi sĩ thời ấy: Phan Duy Nhân. Thế mà mãi mấy mươi năm sau, tôi mới gặp người thi sĩ ấy ở TP Hồ Chí Minh, trong một bộ đồ nâu giản dị, với dáng vẻ khiêm nhường, nhỏ nhẹ của một vị “đại lão hòa thượng”.

Anh công tác tôn giáo, phụ trách Ban Tôn giáo của Chính phủ trong nhiều năm, và là một chuyên gia hiểu sâu sắc những vấn đề rất phức tạp của tôn giáo ở nước ta. Nhà văn Vũ Hạnh gặp anh, cũng nói: cũng hiếm có một người như vậy!

Thì ra anh quê gốc ở Quảng Trị, nhưng sống và hoạt động chủ yếu ở Quảng Nam – Đà Nẵng. Thoát ly đi kháng chiến, nhiều lần bị địch bắt giam, lâu nhất là ở nhà tù Côn Đảo. Được trao trả, rồi tham gia chiến dịch giải phóng Tây Nguyên 1975…

Người chiến sĩ giải phóng, người tù chính trị Côn Đảo ấy, học giả về tôn giáo ấy…, nồng nàn một tình yêu thơ, một tâm hồn thơ… Anh có thơ đăng nhiều báo, tạp chí ở miền Nam từ năm 1956, và sau đó tham gia Hội Văn nghệ giải phóng Trung Trung Bộ. Thơ anh đằm thắm nghĩa tình, đằm thắm tin yêu, câu chữ hình tượng, chọn lọc… Tôi đọc thơ anh, những câu thơ nhiều nỗi niềm trong tình yêu, tình chồng – vợ, tình cha con, đồng đội… ngời sáng một thời đạn lửa, hy sinh, thấy thơ anh đích thực là người anh và càng hiểu ta chiến thắng vì đã có được những người như vậy…

MAI QUỐC LIÊN

Thơ PHẠM PHÁT

THANH QUẾ - nhà thơ, Giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật: “Anh Phạm Phát khiêm tốn nói mình là “dân nghiệp dư”, và thường rất kiệm lời khi nói về các sáng tác của mình mặc dù phần lớn những cái anh viết đều được đăng trên Tuần báo Văn Nghệ và báo chí địa phương. Đọc anh, ai cũng nghĩ ngay: anh là một người sáng tác chuyên nghiệp. Với một vốn sống phong phú, một vốn văn hóa cao do được học ở trường và tự học, nhiều năm làm báo, tiếp xúc với nhiều loại người nên anh đã có tay nghề vững vàng ngay từ những bài viết đầu tiên. Bài thơ mà tôi nhắc ở đầu bài viết này - bài Đám tang giữa mùa lũ - là bài vừa có tứ hay vừa có câu chữ cô đọng, vững chắc và kìm nén…

…Thơ Phạm Phát giàu chất triết lý, anh đã đưa được cái chất ấy vào tất cả các bài thơ của mình, làm cho thơ anh có độ âm vang sâu đằm, dễ gây xúc động cả về tâm hồn lẫn trí tuệ người đọc, đặc biệt là các bài thơ Ngửa mặt nhìn trời, Mồ hôi tiền, Một giọt, Nghe đàn bầu và nhiều bài thơ Hai-ku”.

NGUYỄN BÙI VỢI - nhà thơ: “Bài thơ Đám tang giữa mùa lũ anh viết giản dị, cảm động, viết như không. Bài thơ không còn chữ nữa mà chỉ còn tình”.

Thơ Nguyễn Xuân Thâm

Nguyễn Xuân Thâm thuộc số những nhà thơ đầu tiên sau thời kháng Pháp (thực ra anh đã làm thơ từ 1953 ở Huế). Sau gần 60 năm, tôi, một người đọc anh thuở ấy vẫn nhớ những câu thơ của anh: “Khi em đặt bước lên quê mẹ/ Chớ ngại trời trưa cát bỏng chân/ Bà con mình sống bên tê tuyến/ Lửa đốt trong lòng đã chín năm…” với lời đề tặng Dư An, một cô văn công. Cô ấy bây giờ ở đâu? Chùm thơ của anh mới gửi cho Hồn Việt, mới lạ mà lay động, lời thơ chắc, điệu thơ như điệu tâm hồn anh tha thiết, yêu thương… Anh báo tin sắp in xong một Tuyển thơ. Xin chúc mừng anh. Chúng tôi rất mong được đọc lại thơ anh thời xa xưa ấy và thơ hôm nay, nó chắc sẽ đem đến cho chúng tôi những sáng tạo tìm tòi của một nhà thơ giỏi tiếng Pháp, tiếp nhận văn hóa nhân loại mà gần gũi thân quen thấm đẫm hồn Việt…

Thơ Ngô Văn Phú

Ngô Văn Phú viết rất nhiều thể loại, làm nhiều việc trong văn chương: làm giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn trong một thời gian dài, viết truyện ngắn (và đặc biệt truyện ngắn dã sử), dịch thơ (thơ Đường, thơ Pháp), làm thơ (đã ra nhiều tập thơ), viết tiểu luận… Anh như một con ong cần cù hút nhụy, tham công tiếc việc, cần cù lặng lẽ làm việc cả một đời… Một thống kê của Ban sáng tác Hội Nhà Văn cho thấy anh là người xuất bản nhiều sách nhất Hội…