Giáo dục thẩm mỹ trong giờ tiếng Việt

1. Trẻ em từ ba tuổi đã biết nói tiếng Việt. "Biết nói" đây có nghĩa là nắm được những quy tắc ngữ pháp cơ bản của tiếng mẹ đẻ, tuy vốn từ vựng còn nghèo nàn, và phát âm có thể chưa được sõi (còn "nói đớt” một số âm), và đến năm tuổi thì trẻ em đã làm chủ được ngữ pháp một cách gần như lý tưởng. Vốn tri thức ngữ pháp ấy đã cho phép trẻ em cấu trúc hóa được cách tư duy trong khi mô hình hóa cái thế giới bao quanh mình một cách rành mạch và cân đối, nghĩa là một cách chính xác và nhất là đẹp đẽ. Như vậy, ngay từ khi bi bô học nói chúng đã được giáo dục luôn về thẩm mỹ. Và cái đẹp (cái thẩm mỹ) ở đây không tách rời khỏi cái chân (sự chính xác về ngữ pháp) và cái thiện, mỹ ngay từ bé đã làm thành một tổng thể không hề tách rời trong khi đứa trẻ được nuôi dạy trong gia đình.

Theo thiển ý chúng tôi, nhà trường, kể từ lớp vỡ lòng cho đến hết trung học, không có lý nào không tiếp tục cái quá trình giáo dục đồng thời ba phương diện này.

Trong bài này, tôi chỉ xin bàn về phương diện thứ ba - phương diện thẩm mỹ, mà chúng tôi thấy là phương diện bị coi nhẹ nhất, thậm chí bị hy sinh hoàn toàn để nhường chỗ cho những tri thức được coi là có thể truyền thụ bất chấp phương diện thẩm mỹ, và cũng xin tự hạn chế trong môn tiếng Việt mà thôi.

Trong mấy năm đầu cấp tiểu học, nhiệm vụ của nhà trường là dạy cho học sinh (HS) biết đọc biết viết (chứ không phải biết nói - phần lớn các nhà sư phạm hình như không thấy rõ điều này, cho nên đặt ra những yêu cầu không thỏa đáng trong khi dạy chữ (1)), trong khi không hề chú ý xem những câu được đem ra dạy có phải là những câu có lời hay ý đẹp không, hay là những câu cực kỳ ngây ngô, thậm chí quái gở, mà ngay đứa bé đần độn nhất cũng không bao giờ thèm nói.

Trong khi đó, thích hợp nhất với mấy năm đầu học chữ chính là kho tàng ca dao tục ngữ - chứa đựng trăm nghìn những áng văn đẹp nhất, hay nhất và bổ ích nhất, kết tinh vốn kinh nghiệm của hàng nghìn năm lịch sử dân tộc, mà đứa trẻ cần thuộc lòng để thấm nhuần những mẫu mực về hành văn chứa đựng linh hồn của tiếng Việt dưới hình thức giản dị và súc tích nhất.

Nhân đây chúng tôi xin nhắc đến một công trình đã được biên soạn từ lâu (hoàn thành từ 1995) nhưng cho đến nay vẫn chưa xuất bản được. Đó là cuốn Học vần tiếng Việt qua tranh do ba nhà giáo giàu kinh nghiệm và đầy tâm huyết là bà Trương Minh Nhựt, bà Nguyễn Thị Thanh Hà và bà Bùi Thị Kim Thục.

Cuốn sách đã được Ban Giám đốc nhà Xuất bản Giáo dục xét duyệt và quyết định xuất bản (13/12/1996), được nhiều cán bộ hữu trách của Bộ đọc và khen ngợi rất mực, nhưng vì những lý do về giá thành (quá nhiều tranh màu, nhiều nốt nhạc cho các bài dân ca và bài học tên chữ cái bản nhạc), nên cho đến nay nó vẫn chưa được xuất bản.

Cuốn sách dạy cho học sinh học vần thông qua hơn 70 bài ca dao và đồng dao rất dễ hiểu và dễ thuộc, kèm theo 5 bài dân ca có minh họa bằng băng cassette, được một đội hợp xướng thiếu nhi hát rất hay, lời ca được phát âm rất chuẩn, lại có kèm theo cả cách hát các cung bậc theo ký âm pháp cổ truyền họ xự xàng xê cống liu ú).

Nói tóm lại, đó là một công cụ sư phạm lý tưởng cho lớp Vỡ lòng và cấp tiểu học nếu xét về sự kết hợp giữa ba mặt Chân, Thiện, Mỹ. Thế mà chỉ vì những lý do không đâu, người ta đã gạt nó ra ngoài để chọn một bộ sách dùng cách dạy khô khan và phản mỹ học với những câu văn ngô nghê như chúng tôi đã dẫn trong cước chú trên đây (2).

Không những trong sách học vỡ lòng và tiểu học, mà ngay trong sách trung học cơ sở và phổ thông cũng rất ít khi thấy nhắc đến ca dao tục ngữ. Lý do của sự kiêng kỵ này là dễ thấy: phần lớn ca dao tục ngữ không thể nào phân tích theo kiểu châu Âu thành hai phần Chủ ngữ và Vị ngữ (3), và không giống chút nào với cái mà một số tác giả ngày nay gọi là “văn viết tiếng Việt của thời hội nhập”, với những cách nói như “Em được rất yêu bởi anh” hay “Ta cần khắc phục đi chúng” (trong đó chúng là những “tồn tại” (tức những thói hư tật xấu còn hoành hành) và những “cứu cánh tiền chiến” (tức những kỹ thuật lỗi thời).

Theo các học giả đó, tiếng Việt của ca dao tục ngữ, của Kiều, của Chinh phụ ngâm, của Thơ mới là "tiếng Việt cổ", chỉ sót lại một vài tàn thư cổ lỗ có thể đếm trên đầu ngón tay, tuy vẫn thông dụng trong tiếng nói hàng ngày của dân gian, còn “tiếng Việt văn hóa" ngày nay nhờ sự tiếp xúc vơi các ngôn ngữ phương Tây, đã hoàn toàn giống tiếng châu Âu rồi, và đó mới là phong cách văn viết chuẩn mực. Còn viết mà như nói là không chuẩn, không hiện đại.

Chẳng lẽ ngày nay không còn ai đọc Kiều mà hiểu được lấy một câu nào và không cảm thấy có gì hay? .

Chẳng lẽ tiếng Việt trong thơ Tố Hữu, cũng như ca dao Kháng chiến, hò vè chống Mỹ, vốn chẳng khác gì tiếng Việt trong thơ Nguyễn Du và ca dao truyền thống, đều là thứ "tiếng Việt cổ” đã lỗi thời?

Chẳng lẽ người ta quên mất rằng những nhà văn vĩ đại nhất của nhân loại như Pushkin, Goethe hay Nguyễn Du sở dĩ vĩ đại chính là vì họ viết đúng như tiếng nói của dân gian sao?

2. Trong nhiều dịp khác nhau, và trên nhiều cơ quan ngôn luận khác nhau, chuyên môn cũng có, không chuyên môn cũng có, tôi đã cố gắng trình bày và chứng minh rằng sở dĩ việc dạy tiếng Việt ở nhà trường không đem lại những kết quả mong muốn là vì sách giáo khoa không phản ánh những quy tắc ngữ pháp mà học sinh cần biết để sử dụng cho đúng những phương tiện mà tiếng Việt vẫn dùng để biểu đạt những ý nghĩa cần biểu đạt, mà chỉ sao chép lại những đặc trưng ngữ pháp của các thứ tiếng Âu châu, nhất là tiếng Pháp, cho nên lên đến đại học sinh viên vẫn không được trang bị những tri thức và kĩ năng tối thiểu để dùng tiếng mẹ đẻ cho đúng và nhất là cho hay (khi muốn cho văn bản viết ra có được những lời văn đẹp ).

Trong những bài vở có tính chuyên môn, tôi đã chứng minh rằng sách ngữ pháp tiếng Việt đã xuyên tạc hoàn toàn các thuộc tính ngữ pháp của câu và của các từ ngữ để cho nó giống hệt như những câu và những từ ngữ tiếng Pháp, bất chấp những đặc tính và những quy tắc của câu nói và câu văn tiếng Việt. Chỉ xin đơn cử một trường hợp trong bảy tám trăm cách xuyên tạc được phần đông các nhà ngữ học coi như những chân lý tuyệt đối.

Chẳng hạn khi so sánh nghĩa và đặc trưng ngữ pháp của những từ như (a) cái, con, chiếc, hòn dứa với những từ như (b) giọt, miếng, bầy, đôi, chục, ta thấy hai bên giống nhau trong 100% chi tiết nhỏ nhặt nhất, nhưng các từ (a) được gọi là “loại từ” với lý do là các từ này "không dùng độc lập", còn các từ (b) được gọi là danh từ mặc dầu cũng không bao giờ "dùng độc lập" y hệt như các từ (a), chẳng qua vì các từ (b) có thể dịch ra tiếng Pháp bằng những danh từ (goutte, morceau, troupeau, paire, dizaine) trong khi các từ (a) không thể dịch sang tiếng Pháp. Những trường hợp căn cứ hoàn toàn vào tiếng Pháp để phân loại và xử lí các từ của tiếng Việt có thể kể ra hàng vạn (chính xác hơn, khoảng 11.400 từ). Kết quả là ta có những danh sách từ loại không có chút liên quan gì đến các từ loại của tiếng Việt, vì hoàn toàn căn cứ vào cách phân chia từ loại của tiếng Pháp.

Sở dĩ trên đây tôi nói đến cái đúng/sai (cái chân) và do đó có thể có người cho là tôi lạc đề, là vì trong mọi khoa học, cái đẹp chỉ có thể tồn tại nếu nó phản ánh đúng sự thật, còn thì không có thứ khoa học nào có thể "đẹp" được nếu nó chứa đựng dù chỉ một nhận định không đúng sự thật.

Trong khoa học chỉ có thể nói đến cái đẹp khi nào có hai ba giải pháp cùng đúng như nhau nhưng có giải pháp đạt đến bằng một con đường ngắn hơn, giản đơn hơn và do đó thường được coi là "trang nhã" (elegant) hơn. Trong một giải pháp như thế, bao giờ sức khái quát của các quy luật cũng lớn hơn, và nhờ đó mà số quy luật cần lập thức sẽ ít hơn ("tiết kiệm hơn").

Khi sao chép một thứ tiếng để miêu tả một thứ tiếng thuộc một loại hình khác hẳn, bao giờ quang cảnh có được cũng phức tạp hơn, số quy luật cần lập thức cũng nhiều hơn và lắm trường hợp lệ ngoại hơn (hiệu số có thể lên đến 3,4 lần hay thậm chí mười mấy lần) và do đó mà học sinh khó hiểu và học thuộc hơn rất nhiều.

Đó là xét trường hợp may mắn nhất, chứ như trong trường hợp miêu tả ngữ pháp tiếng Việt theo mẫu tiếng Pháp thì đa số các quy luật được lập thức đều sai, số lệ ngoại bao giờ cũng nhiều hơn số trường hợp đúng quy tắc, và học sinh phải quên hoàn toàn những quy tắc đã học mới viết đúng tiếng Việt được.

Điển hình nhất có lẽ là những quy tắc về cách dùng ba từ đã, đangsẽ mà sách ngữ pháp dạy là “chỉ ba thời quá khứ, hiện tại và tương lai", mặc dầu kể từ thập kỷ 1940 hầu như cả thế giới ngôn ngữ học đều biết rằng tiếng Việt, cũng như hầu hết các thứ tiếng Đông Nam Á khác, là một ngôn ngữ không có thời (a tenseless language).

 

3 . Một lĩnh vực có liên quan đến thẩm mỹ nữa là các biện pháp tu từ, tỷ dụ, ẩn dụ, hoán dụ, ngoa dụ, khiêm dụ, uyển ngữ, mỉa mai, v.v…

Trước hết, nhiều sách giáo khoa không cung cấp cho HS những tiêu chí chính xác để phân biệt những biện pháp tu từ với những cách nói không phải là những biện pháp tu từ như so sánh, nói khoác, nói ngoa, nói dối, giấu giếm, khoe khoang, v.v…

Thứ hai là các sách này không cho HS biết trong những điều kiện nào các biện pháp tu từ có giá trị thẩm mỹ, và trong những điều kiện nào những biện pháp này không có giá trị thẩm mỹ (vì được dùng không đúng chỗ vì đã trở thành sáo mòn. v.v...).

Nếu hai câu như A. cao hơn B. 25 phânLòng quyết tâm còn cao hơn núi đều được gọi là “phép so sánh”thì thử hỏi HS làm sao phân biệt được đâu là biện pháp tu từ, đâu là một cách so sánh thông thường?

Nói rộng hơn, không thể không chỉ ra cho HS biết đâu là cách nói/ viết của cả cộng đồng (ngôn ngữ - langue), đâu là cách nói/ viết của từng cá nhân (lời nói - parole), từ đó HS mới có thể rung động trước cái đẹp của sự sáng tạo, của phong cách độc đáo trong văn chương. Mà dạy văn là gì, nếu không dạy điều đó?

Thơ Nguyễn Duy có thể kém Nguyễn Du, nhưng phải khác tác giả truyện Kiều, chứ không thể giống hệt, vì nếu vậy văn học Việt Nam chỉ cần một Nguyễn Du là quá đủ.

4. Một trong những cái hay của ngôn ngữ, dù đó là tiếng Việt hay là một thứ tiếng nào khác, là có thể nói ít mà truyền đạt nhiều: đó là công dụng của những hàm ý (hàm nghĩa) và hàm ngôn. Việc sử dụng những cách nói này có thể tạo ra những hiệu quả nghệ thuật rất mạnh, đặc biệt là trong các thể loại văn trào phúng. HS thường không hiểu, hay ít nhất là không phân tích được tác giả truyện tiếu lâm hay chuyện vui cười dùng cách gì để làm cho người đọc thấy buồn cười. Cho nên đến khi được yêu cầu viết cho mục vui cười họ rất hay viết những chuyện hoặc không có gì buồn cười, hoặc có chủ đích gây cười một cách quá lộ liễu đến nỗi trở thành vô duyên.

Những tri thức cần thiết cho công việc này được học trong những giáo trình thuộc lĩnh vực dụng pháp mà cuốn Tiếng Việt lớp 12 (Ban Khoa học Xã hội) do Đỗ Hữu Châu chủ biên, đã xuất bản năm 1997 và đã được in lại nhiều lần, trong đó (ở phần thứ hai) có phân tích khá kỹ và khá dễ hiểu những hiệu quả nghệ thuật của những trường hợp vi phạm các "phương châm hội thoại"(P. Grice) làm nảy sinh nhũng hàm ngôn (implicatures) khá bất ngờ và giàu hiệu quả nghệ thuật: đó chính là những thủ thuật làm nên ý vị của những chuyện tiếu lâm, những chuyện vui cười và những cách ngôn mà người đọc có thể nhớ đời và khi cần sẽ đem sử dụng để làm cho câu chuyện thêm mặn mà thú vị.

Nhưng cho đến nay những cuốn sách như vậy vẫn chưa được đưa vào nội dung chính thức của chương trình phổ thông, không rõ vì lý do gì. Phải chăng vì người ta vẫn còn coi việc giáo dục thẩm mỹ là một việc làm vô bổ?

Nhưng nếu thế thì làm sao nối liền được ngôn ngữ với văn học như ta vẫn chủ trương trong khi soạn sách ngữ văn theo tinh thần “tích hợp”?

Để cho bài tham luận khá khô khan và tẻ nhạt của tôi có được một chút tác dụng giải trí, tôi xin trích đọc hai đoạn sau đây, mà một lấy trong cuốn Tiếng Việt lớp 12 (Ban Khoa học xã hội).

1 . Cách ngôn

Những sách báo nói về những tác hại chết người của thuốc lá đã làm cho dân nghiện thuốc lá hoảng sợ đến nỗi họ hạ quyết tâm không bao giờ còn sờ đến loại sách báo ấy nữa.

Ý vị của câu cách ngôn này là ở chỗ phần trước của câu cách ngôn làm cho người đọc chờ đợi một bổ ngữ khác (thuốc lá) cho vị từ phủ định không bao giờ còn sờ đến. Thế mà cái bổ ngữ ấy lại chính là loại sách báo đã làm cho những người nghiện thuốc lá hoảng sợ khi thấy rõ những tác hại chết người của thuốc lá.

2. Chuyện vui cười

Khoảng mười giờ tối ông bác sĩ nhận được một cú điện thoại của một khách quen ở vùng quê.

Ông khách nói, giọng hoảng hốt:

- Thưa bác sĩ, thằng bé nhà tôi nó nuốt cây bút bi của tôi rồi. Bây giờ biết làm thế nào? Xin bác sĩ đến ngay cho.

- Tôi lên đường ngay. Nhưng mưa to gió lớn thế này, đường vào nhà ông lầy lội lắm, phải tiếng rưỡi nữa tôi mới đến nơi được.

- Thế trong khi chờ bác sĩ đến, tôi biết làm thế nào?

- Ông chịu khó dùng tạm bút chì vậy.

Người đọc sở dĩ phải bật cười là vì câu trả lời của ông bác sĩ cho thấy ông ta tưởng ông bố của thẳng bé sốt ruột vì không có bút mà viết (một ý nghĩ rất đáng ngạc nhiên ở một người thầy thuốc) trong khỉ ông bố ấy đang hốt hoảng - cũng như bất kỳ ông bố nào trong trường hợp hiểm nghèo này - vì thằng con mình có thể chết ngạt trước khi bác sĩ đến kịp.


(1)

Chẳng hạn trong sách học vần đã đề ra yêu cầu dạy từng câu chứ không phải từng từ hay từng ngữ, rồi lắp ghép những câu cục kỳ quái dị như Bé vẽ ve; Bò có bó có; Bà ạ, cả cá. cả cà!; Cả cà, cả cá. bà ạ!; A chà. chả cá, cha ạ!; À, cả cà, bà ạ; Dê bé be be.

(2)

Đó là chưa kể những khuyết điểm thuộc giáo học pháp như chọn chữ e 1à con chữ cái dầu tiên được học, trước cả chữ i và chư t là hai chữ dễ viết nhất sau khi tập viết nét sổ ("tập kẻ gậy"), chỉ vì một lý do rất đáng ngạc nhiên là "với chữ e dễ tìm những câu thí dụ hơn “(như câu Bé vẽ ve chẳng hạn).

Ở đây vấn đề còn có liên quan đến cách dạy đọc và viết thông qua lối “đánh vần”, một phương pháp lạc hậu đã bị nhiều nước loại bỏ từ lâu. Chính cách dạy này cản trở việc học chữ qua những câu ca dao sau khì đã học những từ (tiếng) không thông qua “đánh vần” như lần lượt học i rồi ít, rồi u, rồi ui, rồi iu, rồi ti, rồi tu, rồi tui, rồi tiu, rồi tut, v.v... Nhưng đây là một vấn đề không thuộc lĩnh vực đang bàn. xin khất đến một dịp khác.

(3)

Chính vì vậy, một câu kiểu như Rắn mai tại lỗ, rắn hổ về nhà rất khó hiểu đối với người nước ngoài, cả đối với người Việt nào tư duy theo kiểu Chủ-Vị. Chẳng thế mà câu trên được một giáo sư tên tuổi giảng đó là “nhận xét cho rằng rắn mai gầm thường ở trong hang, còn rắn hổ mang thì thường ra ngoài", trong khi nghĩa của câu này là "Bị rắn mai cắn thì chết ngay tại lỗ (hang), bị rắn hổ cắn thì lê về đến nhà mới thết". X- Nguyễn Đức Dương, Về những nguyên nhân khiến giải nghĩa sai tục ngữ, Ngôn ngữ s.15 (146), 2001, tr. 68 -73.

CAO XUÂN HẠO