HV109 - Kể chuyện nhân sĩ trí thức Sài Gòn - Gia Định tham gia kháng chiến chống Pháp* - Hoạt động bí mật trong lòng địch

Trong khi những nhân sĩ trí thức ra chiến khu thì một bộ phận ở lại hoạt động bí mật trong lòng địch. Cũng có người - như kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, bác sĩ Trần Cửu Kiến… - ra chiến khu một thời gian lại được phân công trở vô nội thành Sài Gòn để công tác.

Hoạt động trong vùng tạm chiếm rất đa dạng: hoạt động vũ trang, làm báo bí mật, vận động nhân sĩ, trí thức, công tư chức…

Hoạt động vũ trang

Xin nêu một vài trường hợp điển hình như luật sư Thái Văn Lung, kỹ sư nông nghiệp Nguyễn Văn Tư (Tư Hà)…

Theo học ba trường bên Pháp (Đại học Luật, Trường Khoa học Chính trị và Trường Thuộc địa), về nước Thái Văn Lung làm luật sư tại Tòa thượng thẩm Sài Gòn. Năm 1945, ông tham gia phong trào Thanh niên Tiền phong, được cử phụ trách Ban huấn luyện quân sự. Ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền rồi kháng chiến chống Pháp, được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa I.

Làm chủ tịch Ủy ban Kháng chiến quận Thủ Đức, ông thành lập một lực lượng vũ trang do ông trực tiếp chỉ huy, nhân dân thường gọi là “Bộ đội Thái Văn Lung”.

Sách vở ca ngợi ông: “Ông hăng say chiến đấu, luôn luôn xáp trận cùng chiến sĩ, không chịu ngồi ở doanh trại chỉ huy. Dù Pháp đã chiếm đóng hết các nơi xung yếu và đầu mối giao thông, ông vẫn bám trụ chiến đấu kiên cường”(1). Nhà nghiên cứu Thiếu Sơn cho biết thêm: Ông là người chỉ huy nhưng “ông lại thường xung phong đi trước, đồng cam cộng khổ với anh em, chịu đựng một cách dễ dàng tất cả mọi gian nguy và thử thách”(2).

Trong một trận đánh không cân xứng lực lượng, ông bị bao vây và bị giặc bắt. Biết ông có quốc tịch Pháp, từng du học bên Pháp v.v…, địch tìm cách dụ dỗ ông cộng tác với họ, nhưng bị ông cự tuyệt. Họ tra tấn ông dã man, nhưng cũng không khuất phục được ông. Họ bắt cả vợ ông.

Trước khi qua đời, ông trối lại với vợ: “Tôi biết chắc sẽ không còn sống lâu hơn nữa. Nhưng nếu tôi có chết, tôi cũng không có gì ân hận. Tôi sung sướng là đã làm tròn nghĩa vụ. Nếu em không chết và sẽ được thả, thì em nói lại với những chiến hữu của tôi là nên cố gắng đạt tới mục đích chung cho đến ngày thắng lợi”(3). Năm đó ông mới 30 tuổi (1916-1946).

Kỹ sư Nguyễn Văn Tư được cử làm chỉ huy dân quân Sài Gòn - Chợ Lớn. Bị địch bắt, ông được anh em tù Khám Lớn Sài Gòn bầu làm tổng đại diện Liên đoàn tù nhân Khám Lớn. Cuối năm 1947, giặc đày ông ra Côn Đảo.

Theo kế hoạch của Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, bốn mặt trận tiền tuyến được thành lập ở bốn hướng nhằm bao vây quân Pháp trong nội thành Sài Gòn. Ở phía Nam là mặt trận số 4 do Nguyễn Văn Trân (nguyên sinh viên du học tại Pháp, sau sang học Đại học Phương Đông ở Mátxcơva) làm chỉ huy và Trần Bạch Đằng (tức thầy giáo Triều) làm chính trị viên. Trong tháng mở đầu cuộc kháng chiến, hai ông đã chỉ huy các lực lượng vũ trang trên một địa bàn khá rộng, từ ngã ba Kinh Tẻ đến đầu cầu Bình Đăng (nay thuộc quận 7, huyện Bình Chánh của TP.Hồ Chí Minh và các huyện Cần Đước, Cần Giuộc của tỉnh Long An), cô lập quân Pháp trong nội thành, làm thất bại âm mưu “chiến tranh chớp nhoáng” của chúng, tạo thời gian cho quân và dân các tỉnh Nam Bộ có điều kiện xây dựng lực lượng trước khi bước vào kháng chiến.

 

Thái Văn Lung (1916 - 1946)               Huỳnh Tấn Phát (1913 - 1989)

Xuất bản báo bí mật

Bên cạnh báo chí công khai (sẽ đề cập ở phần sau), Sài Gòn còn có hàng chục tờ báo bí mật. Đó là tiếng nói chính thức của các cơ quan, đoàn thể kháng chiến của Nam Bộ, của Sài Gòn.

Có báo đặt tòa soạn và máy in ở vùng ven đô, không xa nội thành mấy để việc phát hành được thuận tiện (như báo Chống xâm lăng của Thành ủy Sài Gòn đặt tại hộ 17, nay thuộc quận 8, báo Công đoàn của Tổng công đoàn Nam Bộ có ban biên tập ở Gò Vấp nhưng máy in đặt ở bìa rừng cao su Thủ Đức v.v…). Nhưng cũng có báo đứng chân ngay trong nội thành. Như tờ Cứu quốc Thông tin (cơ quan thông tin quân - dân - chính đặc khu Sài Gòn) do Tạ Bá Tòng phụ trách, thuê một biệt thự trên đường Mangin (nay là Trần Khắc Chân) ở Tân Định, trong khi tờ Độc lập (sau đổi tên thành Tiến lên) của Ban Tuyên truyền xung phong, do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát phụ trách, phải nhiều lần thay đổi địa điểm (lúc đầu ở nhà bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, số 244 đường Arras - nay là Cống Quỳnh, sau dời đến nhà ông Nguyễn Tấn Đức, số 104 đường Boudonnet - nay là Lê Lai, cuối cùng chuyển tới nhà ông Nguyễn Văn Nhạc, số 160 đường Lagrandière - nay là Lý Tự Trọng) v.v…

Báo chí bí mật mang lại niềm tin cho người dân yêu nước vùng tạm chiếm, nên trở thành cái gai chọc vào mắt chính quyền thực dân và tay sai. Họ tìm mọi cách để tiêu diệt báo bí mật, tung mật thám, chỉ điểm đi khắp nơi để lùng tìm tòa soạn và nơi in báo. Họ mở nhiều cuộc càn quét ra vùng ven đô hay tổ chức khám xét nhà trong khu vực nội thành.

Bác sĩ Trần Cửu Kiến (lúc đó cũng là một nhà báo bí mật) kể: “Báo Cảm tử [của Tổng công đoàn Nam Bộ, do Lý Chính Thắng phụ trách] rất có uy tín với đồng bào Sài Gòn (…) bán mỗi số 0,5 đồng Đông Dương, nhưng đồng bào ủng hộ luôn 5 đồng. Do đó thực dân Pháp rất tức tối, treo giải thưởng đặc biệt cho ai diệt được Cảm tử. Trong một trận càn lớn ở An Phú Đông (ngày 15- 12-1945), Pháp phát hiện được máy in báo Cảm tử, chúng đập bể máy và đăng báo rằng báo Cảm tử đã bị xóa sổ. Viên quan tư Pháp [chỉ huy trận càn] được lãnh thưởng.

Nhưng sau khi quân Pháp rút lui, suốt đêm Lý Chính Thắng và đồng đội của mình xếp chữ lên khuôn và in bằng cách vỗ tay lên mặt chữ. Ngày hôm sau, báo Cảm tử lại được phân phối rộng rãi trong Sài Gòn. Viên quan tư Pháp không những phải trả lại tiền thưởng mà còn bị cách chức” vì bị cấp trên cho là báo cáo láo để lãnh thưởng(4).

Tháng 8-1946, Pháp càn quét An Phú Đông một lần nữa. Lý Chính Thắng bị thương rất nặng và qua đời ở bệnh viện Chợ Rẫy (30-9-1946). Nguyễn Lưu thay Lý Chính Thắng, đưa tòa soạn và nơi in về Vinh Lộc, quận Bình Chánh.

Nhiều báo đặt trong nội thành cũng bị địch phát hiện. Như báo Tiến lên ở số 160 đường Lagrandière bị lộ ngày 1-4-1946, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát cùng hai nhân viên tòa soạn bị bắt, bị đưa đi thẩm vấn ở bót Catinat rồi bị giam ở Khám Lớn. Nơi in các báo Tổ quốc trên hết, Cứu quốc Thông tin… cũng bị lộ. Đặng Vũ Vinh (còn có tên Vũ Năng An, bí danh Bảy Định) phụ trách báo Tổ quốc trên hết bị bắt, bị Tòa án quân sự thường trực của Pháp kết án tử hình (rất may, án chưa kịp thi hành thì Hiệp định Genève ký kết, Lê Khắc Thành được trao trả cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa).

Khâu phát hành báo bí mật cũng nguy hiểm không kém. Nhiều người bị bắt, bị bắn chết trong khi ôm báo đi phát hành trong vùng tạm chiếm. Nhiều báo tận dụng mọi khả năng hợp pháp như:

- Báo Tin đến của Tổng hội học sinh cứu quốc Sài Gòn - Chợ Lớn, in xong là đưa vào Dinh thủ tướng Nam Kỳ, vì chị Đạt - người phụ trách phát hành báo - có cha làm tài xế cho dinh nên gia đình ở ngay trong dinh.

- Báo Tổ quốc trên hết của Thành hội Liên Việt Sài Gòn - Chợ Lớn đặt trạm trung chuyển ngay tại văn phòng viên Đốc phủ Trực (nguyên Thị trưởng Sài Gòn - Chợ Lớn) vì anh Giỏi, thư ký của ông Trực, phụ trách phát hành báo.

- Tờ Chống xâm lăng của Mặt trận Việt Minh Sài Gòn - Chợ Lớn được một công chức làm việc tại Thư viện quốc gia “giấu kín ở những kệ sách cũ mà viên giám đốc người Pháp không để ý tới”(5). Những người phát hành báo chỉ cần giả vờ làm bạn đọc đến nhận báo rồi đưa đi phân phát tới tay bạn đọc.

Vận động nhân sĩ, trí thức và công tư chức

Sài Gòn là nơi tập trung nhân sĩ, trí thức và công tư chức nhiều nhất so với các địa phương khác ở Nam Bộ. Vì vậy, sau ngày kháng chiến nổ ra, nhiều nhân sĩ trí thức cách mạng như kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, tiến sĩ Hoàng Quốc Tân, bác sĩ Trần Cửu Kiến, nhà giáo Nguyễn Văn Hiếu, Mai Văn Bộ, Tạ Bá Tòng, nhà giáo Bùi Thị Nga v.v… được phân công ở lại nội thành Sài Gòn để làm công tác vận động những người trong giới vì một lý do nào đó còn ở lại thành phố.

Ngoài Đảng Cộng sản, Mặt trận Việt Minh, Đoàn Thanh niên cứu quốc…, nhiều tổ chức (như Đảng Dân chủ(6), Hội Liên Việt(7), Liên đoàn thanh niên Việt Nam, Liên hiệp ký giả dân chủ Việt Nam, Liên hiệp văn nhân, Liên đoàn viên chức cách mạng…) được thành lập hay mở rộng để tập hợp nhân sĩ, trí thức, công tư chức, vận động họ đóng góp cho kháng chiến bằng những việc làm phù hợp. Những thành tựu của công tác này sẽ được trình bày cụ thể trong các phần sau.

Hoạt động trong lòng địch, nhiều nhân sĩ trí thức làm công tác trí vận bị địch bắt bớ, tra tấn, giam cầm (như Huỳnh Tấn Phát, Hoàng Quốc Tân, Trần Cửu Kiến, Bùi Thị Nga…).

Chiến đấu trong lao tù và trước tòa án

Sau khi chiếm đóng Sài Gòn, Pháp thiết lập mạng lưới cảnh sát - mật thám - chỉ điểm dày đặc để phát hiện và bắt bớ những người kháng chiến. Có lần, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát nói: “Đã tổng kết sơ bộ: ai hoạt động bí mật ở nội thành thì trên dưới 2 năm dễ bị giặc bắt nếu không cẩn thận”(8). Nói vậy chứ, chỉ trong vòng nửa năm, người nói câu nói trên bị bắt những hai lần (23-9- 1945 và 1-4-1946)!

Thông thường người bị bắt sẽ bị tạm giam ở bót Catinat (đầu đường Catinat, nay là đường Đồng Khởi) để bị thẩm vấn. Nhà báo Thiếu Sơn kể lại cảnh khi ông bị bắt vào đây năm 1949: Phòng giam “không những thiếu vệ sinh mà còn thiếu cả không khí, chịu dơ bẩn và thiếu thốn đủ thứ. Tới giờ ăn thì họ [cai tù] đứng ngoài song sắt phát cơm và đồ ăn như bố thí cho một lũ cô hồn sống, không chén đũa gì cả. [Tù nhân] người thì lấy vạt áo, người thì lấy mù xoa (mouchoir: khăn tay) hứng phần ăn của mình, còn thua những người ăn mày ở ngoài đời (…). Thỉnh thoảng lại có một anh em [tù] được khiêng về sau một buổi điều tra, mình mẩy thâm tím, sống dở chết dở, nói không ra hơi và được anh em [tù] săn sóc tận tình”(9). Bà Bùi Thị Nga kể tiếp: “Tôi mới thấy nghẹt thở vì mùi khai thối nồng nặc. Hàng trăm con người ta đứng chen nhau bên kia song sắt (…). Người thì rên hừ hừ, người thì lịm đi như ngủ (…). Một cảnh tượng rùng rợn, ghê tởm trải ra trước mắt tôi”(10). Bót Catinat xứng với cái tên “địa ngục trần gian số một”(11).

Sau khi hồ sơ thẩm vấn hoàn tất, người tù bị chuyển sang Khám Lớn trên đường Lagrandière (nay là đường Lý Tự Trọng, chỗ Thư viện Tổng hợp TP.HCM). Phan Trọng Bình thuật lại: “Qua Khám Lớn, tôi lại rơi vào địa ngục trần gian thứ hai với một chế độ cặp rằng (caporal: cai) tàn bạo dã man hơn thời trung cổ. Bọn cặp rằng gồm những tên côn đồ, “anh chị” khét tiếng ở các chợ - đặc biệt là chợ Cầu Muối - và các bến xe. Chúng được bọn cai ngục Pháp dùng làm cai tù giữ trật tự trong xan (salle: phòng). Bọn này (…) cai trị bằng luật rừng, chúng sống phè phỡn trên những giỏ thăm nuôi, quần áo, tiền bạc của anh chị em tù nhân chính trị. Ai hó hé thì chúng đánh ngay để dằn mặt. Ai dám chống đối, chúng bắt ăn cơm trộn mảnh chai, kể cả tóc và cứt. Ai cứng đầu hơn nữa, chúng lên án (tử hình) rồi siết cổ ban đêm”(12).

Tù chính trị không chấp nhận tình trạng đó. Sau khi bàn bạc kế hoạch hành động, ngày 12-3- 1946, tù chính trị tất cả các phòng nhất loạt nổi dậy, vừa chống lại bọn cặp rằng, vừa la hét, đập cửa song sắt. Ban quản lý Khám Lớn xuống xem chuyện gì xảy ra. Võ Huy Xứng thay mặt tù chính trị trình bày câu chuyện và yêu cầu nhốt riêng tù chính trị và tù thường phạm. Trước thái độ kiên quyết của tù chính trị, Ban quản lý đồng ý. Chế độ cặp rằng cáo chung. Ngày 12-3-1946 được xem là “ngày cách mạng của Khám Lớn”.

Ba tuần lễ sau, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát bị bắt rồi bị tạm giam ở Khám Lớn chờ ngày ra tòa. Cùng với tù chính trị, Huỳnh Tấn Phát thành lập Liên đoàn tù nhân Khám Lớn. Huỳnh Tấn Phát được bầu làm tổng đại diện. Chức phó tổng đại diện được trao cho Tư Ba Đào, một tay “anh chị” có uy tín với đám thường phạm. Lần lượt các phòng bầu Ban đại diện của từng phòng. Từ đây, người tù - tù chính trị cũng như tù thường phạm - tự quản lý mọi việc. Sau khi thu thập ý kiến của mọi người, Huỳnh Tấn Phát soạn thảo Bản điều lệ của liên đoàn, Bản nội quy của các phòng, lập ra các ban: an ninh trật tự, thông tin tuyên truyền, y tế vệ sinh, thể dục thể thao… Ban học tập của liên đoàn đã tổ chức nhiều lớp xóa nạn mù chữ, bổ túc văn hóa, bồi dưỡng kiến thức chính trị và quân sự, trong khi các ban khác thực hiện những cuộc phát thanh miệng để thông báo tin tức, những đêm ca hát, diễn kịch tự biên tự diễn, những buổi đá cầu, bóng rổ…

Những người tù bị bệnh hay bị tra tấn (ở bót Catinat chuyển sang) được chăm sóc, sơ cứu chu đáo tận tình. Đặc biệt, liên đoàn lập đường dây liên lạc bí mật giữa các phòng với nhau cũng như giữa Khám Lớn với bên ngoài (với thân nhân, với báo chí, với giới luật sư, với các tổ chức kháng chiến).

Nhà báo Thiếu Sơn kể: khi ông vừa bị giải từ bót Catinat qua thì Liên đoàn tù nhân Khám Lớn đã biết tin ngay, “gửi thư thăm hỏi, tặng tôi một khăn mặt, một bàn chải răng và một hộp Gibbs (hiệu kem đánh răng). Thường thì trại này không được giao thông với trại khác, nhưng không biết các anh đã liên lạc với nhau bằng cách nào mà các anh biết được tôi đã qua Khám Lớn và săn sóc cho tôi chu đáo như thế. Thảo nào lúc đó người ta nói: ở công an (bót Catinat) được giải qua Khám Lớn cũng như ở địa ngục mà được lên thiên đàng”(13).

Liên đoàn bí mật xuất bản báo, rồi bí mật chuyển ra ngoài. Trong dịp Tết Đinh Hợi 1947, nhiều tờ báo của các phòng, “mỗi tờ một vẻ, bìa đẹp, chữ đẹp, in xu xoa (thạch), viết tay mà giống như chữ in”(14) được bí mật trưng bày tại nhà bà Thái Thị Liên (chị của luật sư Thái Văn Lung), mời nhiều nhân sĩ, trí thức, công tư chức đến xem và mua với giá ủng hộ để gây quỹ giúp đỡ tù.

Ngày 19-8-1947, liên đoàn tổ chức diễu hành kỷ niệm lần thứ hai Cách mạng tháng Tám. Anh em tù chính trị phòng 1, đội mũ ca lô gắn sao vàng, đi đều bước (trong phòng) dưới lá cờ đỏ sao vàng…

Tháng 10-1947, liên đoàn phát động cuộc tuyệt thực đòi cải thiện điều kiện sinh hoạt trong tù. Nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng với nhau và giữa Khám Lớn với bên ngoài, địch buộc phải chấp nhận các yêu sách.

Sau thất bại của chiến dịch Tây Bắc (năm 1947), Pháp phải thay đổi chiến lược.

Ngày 5-6-1948, Cao ủy Bollaert và Thủ tướng bù nhìn Nguyễn Văn Xuân ký “tuyên bố chung” trước mặt Bảo Đại, theo đó “Pháp long trọng thừa nhận nền độc lập của Việt Nam” (la France reconnait solennellement l’indépendance du Viet Nam)! Sau đó, Nguyễn Văn Xuân công khai kêu gọi những người kháng chiến ngừng bắn: “Đồng bào thân yêu, anh em chiến đấu vì một nghĩa vụ rất đáng kính trọng, vì một lý tưởng ái quốc và độc lập quốc gia. Chí quả quyết, lòng dũng cảm và tinh thần hy sinh của anh em làm cho người ta phải yêu mến và khâm phục… Cử chỉ của anh em đã ghi rồi trong trang sử nước nhà. Anh em có thể ngừng bắn”(15). Lời lẽ giả vờ “ca ngợi” những người kháng chiến đó nhằm che đậy một ý đồ xấu: kêu gọi đơn phương ngừng bắn, tức là kêu gọi hạ vũ khí, đầu hàng Pháp. Lẽ dĩ nhiên, những người kháng chiến không chấp nhận lời kêu gọi đó.

Nhưng Liên đoàn tù nhân Khám Lớn dùng ngay lời kêu gọi của Nguyễn Văn Xuân để đưa ra yêu sách: Nguyễn Văn Xuân đã công khai thừa nhận những người kháng chiến là yêu nước. Những người tù chính trị có thể được trả tự do khi có một giải pháp chính trị. Họ có thể chờ đến ngày đó.

Riêng những người bị kết án tử hình thì không, họ có thể bị xử tử bất cứ lúc nào. Do đó liên đoàn yêu cầu Nguyễn Văn Xuân phải đình chỉ ngay lập tức việc thi hành các bản án tử hình.

Để gây sức ép, gần 20 tù tử hình bắt đầu tuyệt thực không thời hạn. Để tỏ tình đoàn kết với họ, hơn 400 tù các phòng khác cũng tuyệt thực. Liên đoàn thông báo cho các nhà báo biết. Nhiều báo đưa tin với chiều hướng ủng hộ cuộc đấu tranh của tù Khám Lớn khiến dư luận hết sức xôn xao, buộc Nguyễn Văn Xuân phải cử Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Khắc Vệ cùng hai quan chức cao cấp của chính phủ bù nhìn vào Khám Lớn gặp tổng đại diện Hoàng Xuân Bình(16). Trước yêu sách của liên đoàn, Nguyễn Khắc Vệ thú nhận: Chuyện đó vượt quá thẩm quyền của chúng tôi. Chỉ có chính phủ Pháp mới có quyền quyết định.

Hoàng Xuân Bình hỏi: Các ông tuyên bố rằng Pháp đã trả “chủ quyền độc lập” cho các ông. Vậy người dân phải hiểu mấy chữ “chủ quyền độc lập” đó như thế nào đây?

Nguyễn Khắc Vệ trả lời bằng một câu nửa chữ Tây, nửa chữ ta: Mais nous sommes bù nhìn comme vous le dites (Thì chúng tôi là bù nhìn như các anh vẫn gọi)(17).

Liên đoàn tiếp tục yêu sách. Cuối cùng, Nguyễn Khắc Vệ phải cam kết: trong ba tháng tới sẽ không có tù nhân nào bị hành quyết.

Nhận thấy cuộc đấu tranh đã đạt được một phần, liên đoàn quyết định chấm dứt cuộc tuyệt thực đã kéo dài một tuần lễ để bảo vệ sức khỏe của anh em.

Nhờ sự đoàn kết tương trợ của anh em tù và cũng nhờ tài lãnh đạo của Ban tổng đại diện, cuộc sống của anh em được cải thiện đáng kể. Trong báo cáo gửi Cao ủy Pháp ở Đông Dương, Giám đốc Sở mật thám Nam Kỳ Rivera thừa nhận: “Chính tù nhân đang chỉ huy ở Khám Lớn, biến Khám Lớn thành một trường quân - chính của Việt Minh” (Ce sont les détenus qui commandent à la Maison Centrale, transformée en une école politico-militaire Vietminh)(18).

Một kết quả khác mà ít người để ý: tác động của tù chính trị đối với tù thường phạm. Một tù thường phạm cho biết: “Trước đây, tôi là một dân chơi, “anh chị”. Lúc ở Khám Lớn Sài Gòn, nhờ anh Phát chỉ cho con đường “sống cho ra sống”, nên khi ra tù, tôi đi theo cách mạng đến giờ”(19).

Học tập kinh nghiệm của Khám Lớn, hơn 4.000 tù nhân ở nhà lao Chí Hòa cũng thành lập Liên đoàn tù nhân Khám Chí Hòa. Liên đoàn đã lãnh đạo anh em tổ chức tuyệt thực đòi cải thiện chế độ nhà tù, để tang học sinh Trần Văn Ơn bị địch giết, chống đàn áp và khủng bố sinh viên học sinh…

Ngày 8-3-1953, Pháp - Bảo Đại phải phá bỏ Khám Lớn Sài Gòn, dời toàn bộ tù nhân ở đây sang Khám Chí Hòa.

Sau khi việc thẩm vấn hoàn tất, công an chuyển hồ sơ người bị bắt sang tòa án (thường là tòa án quân sự thường trực).

Trước tòa, các nhân sĩ trí thức vẫn giữ tư thế hiên ngang của chiến sĩ. Xin nêu vài ví dụ:

Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát bị bắt ngày 1-4- 1946, bị đưa ra tòa án binh ngày 20-10-1947. Báo Điện tín số 41 ra ngày 22-10-1947 trích thuật lời ông tuyên bố trước tòa: “Những điều tôi làm, những nhà kháng chiến Pháp đã làm [để chống quân Đức chiếm đóng Pháp trong chiến tranh thế giới thứ hai]. Và bên cạnh họ, những sự hoạt động của tôi chỉ là một vệt sáng lu mờ”.

Một trí thức trẻ khác, Hoàng Xuân Bình, bị bắt tháng 5-1947. Bị đưa ra tòa ngày 25-5-1948, phát biểu trước tòa: “Tôi xác nhận rằng tất cả các điều mà bản cáo trạng đã nêu đều đúng sự thật và tôi xin chịu trách nhiệm, vì tôi đã cân nhắc một cách tỉnh táo, thực hiện một cách tự nguyện với lương tâm trong sáng, không có bất kỳ một sự áp đặt nào từ người khác.

Điều ân hận duy nhất của tôi hôm nay là đã để cho sớm bị loại khỏi vòng chiến đấu mà chưa làm được gì có ích cho Tổ quốc của tôi. Tôi ước ao, nếu được làm lại cuộc đời trong bối cảnh như tôi đã trải qua, tôi yên tâm kết luận rằng tôi sẽ làm y như vừa qua, và có lẽ làm tốt hơn lần đầu.

Tôi hoàn toàn không nuôi một ảo vọng nào về bản án mà quý Tòa sẽ tuyên. Tôi chỉ xin mỗi vị thẩm phán và vị chánh án, trước khi bỏ thăm về mức án, hãy trả lời với lương tâm của mình: nếu quý vị ở vào tình cảnh của tôi, quý vị sẽ là người tham gia kháng chiến (résistants) hay kẻ hợp tác với địch (collabos)?”(20).

Trong nhiều trường hợp, chính tư thế hiên ngang bất khuất của các nhân sĩ trí thức đã đánh vào lương tâm của các quan tòa thực dân. Chẳng hạn, đại úy Avazeri, người giữ vai trò ủy viên chính phủ trong vụ án Hoàng Xuân Bình, lúc đầu buộc tội “phản quốc” với bản án khổ sai dài hạn, sau khi nghe lời tự bào chữa của Hoàng Xuân Bình, đã đứng dậy xin đổi tội danh thành “hoạt động lật đổ” với khung án tối đa là 5 năm tù giam (không có tử hình, khổ sai hay cấm cố).

Lúc đó, Pháp bắt báo chí công khai ở Sài Gòn gọi bộ đội Việt Minh trong các tin chiến sự là “quân phiến loạn” (rebelles). Ra trước Tòa án quân sự thường trực, Lý Hải Châu nhìn thẳng các quan tòa Pháp, tuyên bố: “Chính thực dân Pháp mới là rebelles đã xâm phạm an ninh lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chính phủ Hồ Chí Minh kiểm soát”(21). Lần đó, Lý Hải Châu bị tuyên án tử hình.

(Còn tiếp)

 

______

* Xin xem Hồn Việt từ số 107 (tháng 9-2016) và 108 (tháng 10-2016).

(1) Nhiều tác giả, Mùa thu rồi ngày hăm ba, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tập IV, tr.457.

(2), (3) Thiếu Sơn, Nghệ thuật và nhân sinh, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2001, tr.388, 389.

(4) Trần Cửu Kiến, “Làm báo bí mật giữa Sài Gòn và trong nhà tù”, Trận tuyến công khai giữa Sài Gòn (nhiều tác giả), NXB Trẻ, TP.HCM, 2015, tr.223.

(5) Vương Văn Lễ, “Nhớ một thời công tác Mặt trận”, Nam Bộ thành đồng tổ quốc, đi trước về sau (nhiều tác giả), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.187.

(6) Đảng Dân Chủ Việt Nam được thành lập tháng 6-1944 ở Hà Nội. Năm 1945, Tân Dân chủ đoàn (sau đổi thành Tân Dân chủ đảng) ra đời ở Sài Gòn, về sau hợp nhất với Đảng Dân chủ Việt Nam ngoài Bắc, trở thành Kỳ bộ Nam Bộ của Đảng Dân chủ Việt Nam.

(7) Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Hội Liên Việt) được thành lập tháng 5-1946 ở Hà Nội. Hội Liên Việt Nam Bộ được thành lập giữa năm 1947. Tháng 3-1951, Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt hợp nhất thành Mặt trận Liên Việt.

(8) Trần Cửu Kiến, “Anh Huỳnh Tấn Phát - người bạn và người thầy của tôi”, Làm đẹp cuộc đời (nhiều tác giả), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.192, 194.

(9) Thiếu Sơn, Nghệ thuật và nhân sinh, sđđ, tr.485, 487.

(10) Bùi Thị Nga, “Sa lưới quân thù”, Làm đẹp cuộc đời, sđđ, tr.141.

(11), (12) Phan Trọng Bình và Hoàng Xuân Bình, “Đấu tranh trong tù”, Làm đẹp cuộc đời, sđđ, tr.145, 154.

(13) Thiếu Sơn, Nghệ thuật và nhân sinh, sđđ, tr.485, 487.

(14) Bùi Thị Nga, “Phối hợp đấu tranh trong và ngoài Khám Lớn”, Làm đẹp cuộc đời, sđđ, tr.158.

(15) Trích dẫn bởi Nghiêm Kế Tổ, Việt Nam máu lửa, NXB Mai Lĩnh, Sài Gòn, 1954, tr.126, 127. Nguyễn Văn Xuân có quốc tịch Pháp, thường nói tiếng Pháp. Danh từ geste có hai giống với hai nghĩa khác nhau: giống cái có nghĩa là công trạng; giống đực có nghĩa là cử chỉ. Có lẽ Nguyễn Văn Xuân dùng từ geste giống cái, nhưng người dịch câu trích dẫn nói trên hiểu nhầm là geste giống đực, nên dịch “cử chỉ” không có nghĩa. Theo thiển ý của chúng tôi, nên dịch: “Công trạng của anh em…”.

(16) Sau khi kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát được trả tự do, kỹ sư Nguyễn Văn Tư (bí danh Tư Hà, nguyên chỉ huy Dân quân Sài Gòn - Chợ Lớn) thay. Cuối năm 1947, địch đày Tư Hà ra Côn Đảo, Hoàng Xuân Bình làm tổng đại diện Liên đoàn tù nhân Khám Lớn.

(17), (20) Hoàng Xuân Bình, “Người anh kháng chiến của tôi”, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, cả nước tôn vinh anh (nhiều tác giả), NXB Văn học, Hà Nội, 1995, tr.70, 65-66.

(18) Phan Trọng Bình và Hoàng Xuân Bình, “Đấu tranh trong tù”, Làm đẹp cuộc đời, sđđ, tr.145, 154.

(19) Trần Cửu Kiến, “Anh Huỳnh Tấn Phát - người bạn và người thầy của tôi”, Làm đẹp cuộc đời, sđđ, tr.192, 194.

(21) Lý Hải Châu, “Gặp anh trên con đường lớn”, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, cả nước tôn vinh anh, sđđ, tr.117.

TS PHAN VĂN HOÀNG