HV129 - Nhạc sĩ PHẠM MINH TUẤN: Nỗi đau riêng chỉ là một phần trong nỗi đau chung của dân tộc

Nhớ những ngày đầu mới giải phóng, lần đầu tiên nghe bài hát Qua sông vang lên trong bộ phim Đường ra phía trước của đạo diễn Hồng Sến, tôi đã bị mê hoặc trong từng nét nhạc vừa trong trẻo vừa hào hùng ấy. Bởi vì hơn 20 năm sống ở miền Nam, mê nhạc Trịnh và những bản tình ca ướt đẫm nước mắt, Qua sông là bản nhạc cách mạng đầu tiên tôi được tiếp xúc để hình dung và thấu hiểu được một phần cuộc chiến giành độc lập của dân tộc… Và cũng lần đầu tiên tôi biết tên anh: nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn.

* PV: Thưa nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn, được biết anh sinh ra và lớn lên ở Phnôm Pênh (Campuchia), lẽ ra cuộc sống của anh rất an bình trong một đất nước không có chiến tranh, vì sao anh lại băng mình trở về nước tham gia cuộc kháng chiến gian khổ của dân tộc?

- Nhạc sĩ PHẠM MINH TUẤN: Gia đình tôi rất nghèo, từ đất Bắc đói quá trôi giạt đi tha phương cầu thực khắp nơi, người sang Lào, người sang Campuchia… Tôi được sinh ra và lớn lên ở một xóm nghèo Phnôm Pênh, nhà đã nghèo còn bị 3 lần cháy nhà, nên của cải tan theo tro bụi. Những năm đó, chính phủ Campuchia đang có chính sách mở rộng đường, nơi chính khu nhà tôi ở. Và muốn giải tỏa nhà dân mà khỏi đền bù thì chỉ có cách đốt nhà, coi như đó là thiên tai. Nhà tôi phải dạt đi chỗ khác và cùng ở chung một khu Việt kiều. Những năm đó, dưới thời Hoàng thân Sihanouk, cán bộ mình hoạt động trên đất Campuchia gần như công khai. Các anh lập đoàn Thanh niên Việt Nam, huấn luyện ca hát cho thiếu nhi. Từ năm 1958, tôi tự học đàn và được chơi trong đoàn Văn nghệ xóm nghèo Việt kiều. Vì cha tôi là liệt sĩ, các anh lại thấy có năng khiếu âm nhạc nên gợi ý tôi trở về miền Nam chiến đấu, giải phóng đất nước. Năm 1960 tôi mới 18 tuổi, đầy tâm huyết và lý tưởng cứu nước nên đồng ý ngay…

Từ trái sang: chị Hồng Cúc (vợ nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn), nhà thơ Bảo Định Giang và nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn tại rừng Tây Ninh

* Nghĩa là để chuẩn bị cho Đồng khởi 1960, Đoàn Văn công Việt kiều đã được chuẩn bị sẵn trên đất Campuchia để hòa vào dòng chảy cách mạng của dân tộc…

- Đúng vậy, Đoàn Văn công của chúng tôi đã được thành lập đầy đủ các bộ môn Ca, Múa, Cải lương, Kịch nói. Trước khi về Nam tôi được huấn luyện đi bộ mỗi ngày 20km, và được học đờn ca cải lương mỗi tuần 3 đêm. Buổi lễ chào mừng Mặt trận Giải phóng ra đời, chúng tôi biểu diễn ở sân rộng giữa rừng, trên có treo 2 lá cờ, 1 là cờ Tổ quốc cờ đỏ sao vàng, 1 lá cờ đỏ trơn. Lúc ấy lá cờ xanh đỏ của Mặt trận Giải phóng chưa có nên tạm dùng cờ đỏ tượng trưng cho cách mạng. Đoàn Văn công Giải phóng lúc đó chưa được thành lập nên Đoàn Văn công Việt kiều gần như bao sân.

* Nghệ danh Phạm Minh Tuấn của anh chắc có từ một kỷ niệm khó quên trong đời? Anh tham gia cách mạng từ những ngày tháng đầu tiên chắc sẽ rất gian khổ; ở tuổi 18 còn non trẻ lúc ấy, có khi nào trong cơn sốt rét rừng với cái đói xanh da có phút nào anh thấy chạnh lòng cho sự lựa chọn của mình?

- Tên thật của tôi là Phạm Văn Thành, việc tôi đổi tên là nguyên tắc khi tham gia cách mạng. Tên Tuấn là tên người bạn thân của tôi và người thêm cho tôi chữ lót Minh là anh Nguyễn Văn Hiếu. Đơn giản vậy thôi. Thời kỳ đầu thực sự rất gian khổ, chúng tôi ở chiến khu D muốn lấy gạo phải băng qua đường Trần Lệ Xuân. Vì thời kỳ đầu chưa làm rẫy được mà địch chặn đường tiếp tế của mình nên đói xanh mắt. Phải đào củ chụp, lấy măng rừng, rau rừng ăn. Chạnh lòng ư? Không đời nào. Lý tưởng hừng hực trong trái tim trẻ tuổi đi theo con đường cứu nước của Bác Hồ, tôi tin tưởng tuyệt đối, đói khổ một chút có là gì với sức lực thanh niên. Và hơn nữa bên cạnh tôi, những bậc tiền bối đã hai mùa kháng chiến như anh Trần Bạch Đằng, anh Tân Đức, vợ chồng chị Đỗ Duy Liên, anh Nguyễn Văn Hiếu… chính là tấm gương trước mắt cho tôi noi theo.

* Bài hát Qua sông được anh viết khi mới 21 tuổi, lúc đó anh đã được học thêm nhạc lý chưa hay vẫn còn mày mò tự học? Một người sống ở rừng Tây Ninh mà viết về sông nước réo rắt như là từ bé đã được tắm trong lòng dòng sông trong xanh, có phải là khá kỳ diệu không?

- Cuối năm 1962 tôi về Tân Biên bên dòng sông Vàm Cỏ Đông, ở đây chị em tải gạo bằng ghe. Nhìn các cô gái áo bà ba đen, khăn rằn chèo thuyền thoăn thoắt trên dòng sông xanh ngắt với nụ cười tươi như nắng, ai mà không thấy cảm xúc. Vậy là tôi viết một mạch với trái tim tràn trề niềm vui, trong xanh của tuổi 20. Bài Qua sông tôi viết năm 1963, cũng là năm cán bộ tập kết miền Nam về nhiều. Bên văn có anh Anh Đức, Nguyễn Văn Bổng về năm 1962; bên nhạc có anh Vũ Thành (nhạc sĩ), Trí Thanh (hát), Trường Sơn (múa) từ quân đội về mở lớp bồi dưỡng nhạc lý cơ bản năm 1963. Đó là lớp nhạc đầu tiên tôi được học có thầy giảng dạy hẳn hoi. Năm 1966, anh Lưu Hữu Phước về; năm 1967, Tô Lan Phương, Trần Mùi và Hoàng Việt về. Tôi có may mắn ở cạnh anh Hoàng Việt nên có cơ hội học anh khá nhiều, cứ mỗi ngày trò chuyện và học anh một ít, góp nhặt từ từ. Mãi đến năm 1974, tôi ra Bắc trị bệnh và đi học chính quy ở nhạc viện. Tôi được học lớp Dự bị đại học và học với thầy Đàm Linh. Năm 1975, trở về miền Nam, tôi vào nhạc viện học hết đại học với các thầy Ca Lê Thuần, Quang Hải…