HV159 - Mối tình son sắt của hai người đồng chí hướng - Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và bà Ngô Thị Huệ*

LTS: Cuốn hồi ức của bà Ngô Thị Huệ (Bảy Huệ)(1) là một câu chuyện đặc sắc của một phụ nữ Nam Bộ. Xuất thân trong một gia đình nông dân, bà được giác ngộ cách mạng từ thời con gái. Theo tiếng gọi của Tổ quốc, của cách mạng bà đã dâng hiến tuổi thanh xuân của mình cho những hoạt động hiểm nguy mà không hề sờn lòng. Bà đã từng là Thường vụ Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn thời chống Pháp. Trong hoạt động cách mạng bà gặp đồng chí Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc) và hai người yêu nhau, thành chồng vợ, một mối tình nồng nàn trong tình cảm cách mạng.

Hồn Việt xin trích in đoạn về mối tình này trong cuốn hồi ức.

…Về bức thơ của anh Mười, đó là bức thơ đầu tiên tôi nhận được. Tôi tranh thủ đọc ngay, và sau khi đọc đi đọc lại, trong đó anh Mười gởi gắm tình cảm tôi thấy có phần phân vân, nhớ lại anh và tôi chỉ gặp mặt nhau mới vài lần, lần thứ nhất tại bến Đại Ngãi (Sóc Trăng) anh từ Côn Đảo trở về, lần thứ hai khi anh Mười thay mặt Ban lãnh đạo tù Côn Đảo cùng với anh Lê Văn Sỹ về Bạc Liêu đưa đồng chí Tô Thúc Rịch thay đồng chí Lê Khắc Xương làm Bí thư Tỉnh ủy; lần thứ ba, anh ra ga xe lửa Sài Gòn đón tôi từ Hà Nội trở về. Ngẫm lại qua mấy lần gặp ngắn ngủi đó tôi có cảm nhận ban đầu anh là một đồng chí nói năng chững chạc, giao tiếp giản dị, dễ gần… Và có phải khi gặp lại anh ở ga Sài Gòn nhìn thấy chiếc áo sờn vai anh mặc hôm đó, đã lưu lại trong tôi một cảm tình nào chăng? Hiểu biết về anh chỉ mới có vậy, mà cũng chưa để ý tìm hiểu gì thêm về anh. Suy đi nghĩ lại, tôi nhớ trong những năm qua có mấy đồng chí rất thương và “đặt vấn đề” với tôi, nhưng mình chưa nghĩ đến việc lập gia đình. Những kỷ niệm về anh Quản Trọng Hoàng, rất khó quên trong tâm trí tôi. Ngày 22 tháng 7 năm 1942 anh bị xử tử ở Ngã Ba Giồng quận Hóc Môn, có được tin mà không dám đến nơi để vĩnh biệt anh do nguyên tắc bí mật. Sau đó tôi rất buồn và ân hận, vẫn giữ mình do đã hứa với anh khi nào cách mạng thành công, chúng tôi mới chính thức tổ chức lễ cưới. Nay thì anh đã ra đi mãi mãi mang theo lời hẹn ước…

Lần này bức thơ rất chân tình của anh Mười khiến tôi thấy đắn đo. Tôi thầm nghĩ, thân phận nữ nhi, người ta thương mình là quyền của người ta, còn mình có đáp lại hay không là do mình quyết định. Lòng nói với lòng như vậy, nhưng dần dà tự nhiên tôi cũng bắt đầu tìm hiểu về anh qua những chuyến đi công tác chung với các bạn tù Côn Đảo của anh như Phan Trọng Tuệ, anh Mai Chí Thọ… Được biết thêm đôi chút về anh, tự nhiên trong lòng thấy vui khi nghe các anh nói lên những tình cảm quý mến dành cho anh.

“Câu chuyện” chưa tới đâu, lại xảy ra một việc khiến tôi không dằn được cơn bực bội. Hôm đó đi công tác các tỉnh về tới chợ Thiên Hộ (Đồng Tháp) gặp cô Yến cùng công tác ở cơ quan phụ nữ, đang ngồi trên một chiếc xuồng chở đầy nào gà vịt, trái cây v.v… tôi buột miệng hỏi:

- Mua đồ chi mà nhiều vậy Yến?

Yến nhìn tôi vừa cười mỉm vừa nói lớn:

- Mua đồ về, làm đám cưới đó!

- Ủa, đám cưới của ai vậy?

- Thì của chị chớ của ai!

- Sao lại có đám cưới của tôi?

- Đám cưới của anh Mười Cúc với chị, chớ còn của ai?

Như bị một cú sốc, tôi cố trấn tĩnh:

- Sao kỳ vậy, sao tôi chẳng hay biết gì cả? Đừng có nói chơi kỳ như vậy nghe!

- Thiệt đó chị Bảy ơi! Mấy anh đưa tiền em mua mà!

Về đến cơ quan tôi làm thinh bỏ vào nhà. Lòng giận lắm. Chuyện lứa đôi là chuyện hệ trọng, đâu phải chuyện gả bán! Sao mấy anh có thể coi thường tôi quá như vậy?


Ông Nguyễn Văn Linh và bà Ngô Thị Huệ sau ngày cưới ở Gò Xoài (Bình Chánh)

Lúc ấy cơ quan Xứ ủy đóng ở Tháp Mười cùng với nhiều cơ quan cấp Nam Bộ. Biết tôi giận lắm, mấy chị liền báo cho các anh hay. Anh Ba Lê Duẩn đến gặp tôi ngay để hỏi đầu đuôi sự việc. Tôi nói là khi từ Sài Gòn về đây, anh Mười có gởi theo bức thơ cho tôi, đặt vấn đề xây dựng gia đình. Tôi chưa hiểu rõ anh Mười, chưa hề trao đổi một lời nào với nhau, sao lại tổ chức đám cưới?

Ít lâu sau tôi lại nhận được một bức thơ dài do anh Ba Lê Duẩn viết kể rõ gia cảnh anh Mười dấn thân hoạt động cách mạng từ khi ở tuổi học trò. Anh em sống chung ở Côn Đảo đều quý mến anh do tư cách, tánh tình, sống trung thực gắn bó với Đảng, với tập thể. Đọc bức thơ, tôi thấy xúc động lắm, bởi sự tận tình tận nghĩa chăm lo hạnh phúc cho bậc đàn em như anh Mười thật là quý. Nhất là tôi đã cảm nhận được tấm lòng của anh dành cho mẹ, cho chị em cán bộ đảng viên chúng tôi qua những ngày ngắn ngủi cùng anh và anh Quản Trọng Linh trong chuyến trở về Nam.

Thời gian dần trôi. Đầu năm 1948 tôi được bổ sung vào Ban thường vụ Thành ủy, anh Mười và tôi có nhiều dịp gặp nhau hơn, nhưng cũng giới hạn trong quan hệ công tác cấp ủy. Đến một hôm, tại nhà anh Ngô Liên ở gần cầu Chà Và chợ Xóm Củi (Chợ Lớn), anh tỏ ý muốn gặp riêng tôi sau buổi họp.

Chúng tôi đứng nói chuyện với nhau trên sân thượng.

Nhìn xuống đường trông thấy người ăn xin lê lết, tôi buột miệng nói với anh:

- Đất nước còn có những cảnh đời như thế này, mình mới thoát ly gia đình…

Anh nói chen:

- Đúng vậy, tôi đồng ý với chị, hy sinh đấu tranh giải phóng đất nước cốt là đem lại công bằng, hạnh phúc cho nhân dân.

Anh rất hồn nhiên và trong giây phút đó tôi như thấy gần với anh hơn và có thể tâm sự được. Tôi lặng thinh đưa mắt nhìn bâng quơ cảnh vật chung quanh. Ngọn gió đêm thổi mạnh lay động hàng sao cổ thụ hai bên đường. Qua ánh đèn mờ nhạt nhưng còn đủ sáng để tôi bắt gặp những cánh bông sao kế tiếp nhau quay thấp thoáng trong không trung khiến cho tôi sực nhớ đã nhìn thấy trên đường phố từ những buổi chiều mới đặt chân lên đất Sài Gòn hoa lệ này. Và từ mấy chậu bông đâu đây tỏa ra thoang thoảng hương thơm lại nhắc tôi nhớ thời tuổi thơ ở quê nhà.

Anh tỳ tay vào lan can, nhìn tôi nói khẽ:

- Tôi xin lỗi về việc mấy anh em ở cơ quan đã làm vừa rồi. Thật ra, anh em muốn tác hợp tôi với chị nhân dịp tôi về báo cáo công tác với Xứ ủy, những dịp như vậy lâu lâu mới có được. Đã nhiều lần các anh trao đổi ý kiến với tôi, thành ra…

- Tôi năm nay hai mươi tám tuổi, chuyện lập gia đình không có gì trở ngại, nhưng tôi nghĩ cần có thời gian để hiểu nhau, cần hiểu rất rõ nữa cho cả hai bên, còn ở đây anh với tôi gặp nhau còn ít quá, nhớ chỉ mới vài lần, chưa nói được gì chuyện riêng tư…

- Tôi cũng hiểu như vậy, nhưng khi tôi gặp chị tôi cứ tưởng như được gặp một người mà tôi đã quen biết. Chắc chị đâu có dè từ khá lâu rồi, hồi còn ở Côn Đảo, tôi đã được nghe các đồng chí từng tham gia Khởi nghĩa Nam Kỳ, kể về chị và đồng chí Quản Trọng Hoàng, xin được nói thật lòng tôi đã rất xúc động. Tôi cũng được biết sau đám hỏi đồng chí Hoàng đã hy sinh. Tôi thật lòng kính trọng đồng chí Hoàng và rất thương tiếc một cán bộ lãnh đạo, một người cộng sản như anh. Với chị tôi thầm quý trọng và được thấy chị ở Đại Ngãi, ở Bạc Liêu và cũng cơ may làm sao lại được đón chị ở ga Sài Gòn nên mới vội viết bức thư bộc bạch tấm lòng chân thành như chị đã biết.


Đồng chí Mười Cúc sau khi ra tù Côn Đảo (1946)


Đồng chí Bảy Huệ hoạt động nội thành Thường vụ Thành ủy (1948)

Ngừng một chút, anh nói tiếp:

- Những ngày sau này tôi còn nghe cô Mai, cô Hoàng kể về chị. Tôi càng thấy quý và thương. Tôi muốn được vừa là đồng chí vừa là người bạn đời, và sẽ tạo hạnh phúc cho nhau. Hôm nay được dịp nói chuyện riêng, trước hết tôi mong chị đừng giận nữa, chuyện vừa qua không phải do ý của tôi đâu mà do các đồng chí trong Thường vụ Xứ ủy thương tình cả đối với tôi và với chị. Và tôi nghĩ có lẽ chắc có sự đồng tình của anh Ba Lê Duẩn rất hiểu và thương tôi cũng như thương quý chị.

Những lời nói, cách đặt vấn đề rất chân tình của anh khiến tôi không thể không cân nhắc. Thật ra sau khi tìm hiểu về anh, trong thâm tâm tôi không e ngại điều gì cả. Có một người bạn đời như thế cũng yên lòng được. Nhưng khi nhớ tới anh Hoàng sao tôi lại thấy lướng vướng “không nỡ”. Mình “quen” và đã trót hứa với một người - dầu chưa phải là tình yêu - mà nay lại “thành thân” với một người khác, thật khó quá!

Nhưng cũng có những phút thoáng qua trong suy nghĩ “chẳng lẽ mình ở vậy suốt cả đời?”. Anh Mười cũng là một con người đáng kính, đáng quý, hy sinh cả tuổi thanh xuân cho cách mạng. Giữa lúc tôi còn đang phân vân tìm câu trả lời, anh chậm rãi nói tiếp:

- Tôi biết đồng chí Hoàng hy sinh, chị đau khổ lắm! Chúng mình còn sống phải cùng nhau nối tiếp hoài bão, sự nghiệp của bao đồng chí, đồng bào còn bỏ dở. Trong tình yêu này, thực lòng cũng có phần tôi mong được bù đắp phần nào nỗi đau mất mát chị hằng gánh chịu, và đâu chỉ của riêng hai chúng ta…

Tôi nghĩ dường như anh còn muốn nói để giãi bày cho hết tâm sự.

Lòng tôi bâng khuâng… đôi chút bàng hoàng. Tôi nhìn anh, lần đầu tiên tôi chăm chú nhìn anh. Chiếc áo sờn vai anh mặc hôm nào, tiếp theo những gì tôi được biết về anh, tuy chưa đầy đủ, từ tuổi thơ cho đến những năm tháng hoạt động cách mạng, tù đày ở địa ngục trần gian Côn Đảo và mấy lần được tiếp xúc, làm việc với anh, những gì được biết, được cảm nhận về anh, nhất là những gì được nghe anh thổ lộ trong đêm nay như ập vào tâm trí khiến cảm thấy mình như cô em gái nhỏ bên anh.

Anh lại nói tiếp và tôi cảm thấy mình cũng muốn được nghe thêm.

- Gắn đời mình với cách mạng thì tình yêu cũng nằm trong cái chung. Sống có ý nghĩa thì tình yêu mới cao đẹp. Hai chúng mình thuộc tầng lớp nghèo, đều có trải qua tù đày, thấm thía nỗi đau của riêng mình nằm trong nỗi đau của dân tộc, những điểm giống nhau đó sẽ giúp chúng mình cảm thông nhau, sẽ biết sống và hy sinh cho nhau…

Nghe anh nói cứ tưởng như anh nói lên tâm ý của tôi, đâu còn là chuyện riêng tư của một người.

Dầu có hiểu rõ đòi hỏi nam nữ bình đẳng, thời đó tôi vẫn theo tâm lý chọn người chồng có tình có nghĩa và có trình độ, có nghị lực để làm điểm tựa tinh thần, tình cảm trong cuộc sống lứa đôi.

Khi nghe anh hỏi:

- Chị có đồng ý những điều tôi nói không?

Rất hồn nhiên, tôi khẽ gật đầu mà anh không nhìn thấy, và chậm rãi nói cho đủ anh nghe:

- Tôi cũng nghĩ như anh vậy. Nhưng mà…

- Nhưng mà sao?

- Tôi biết trả lời với anh sao đây?

- Tôi đã trình bày hết ý của tôi. Tôi nghĩ cuộc đời mình do mình quyết định. Nếu được, chị chỉ gật đầu…

Dường như anh cũng thông cảm người phụ nữ khó nói ra những điều… tế nhị này. Và tôi nghĩ thầm, không dè “cái ông này” ghê thật, cứ thúc người ta trả lời, mà trả lời sao đây, chẳng lẽ mình nói đồng ý. Tôi chợt ngước nhìn anh, gặp đôi mắt của anh cũng đang hướng về tôi, như chờ một lời đáp. Và trong tình thế ấy, tôi lại nói nhỏ như thì thầm:

- Anh cho tôi thời gian để suy nghĩ thêm.

Không biết anh nghĩ sao mà mắt anh chợt sáng lên. Sau này, mỗi lúc nghĩ đến anh, tôi đều như bắt gặp ánh mắt ấy, ánh mắt của người cầm chắc đạt được sở nguyện. Nhưng tôi vẫn ráng nói dù tiếng nói đứt quãng:

- Anh đừng nhìn tôi…

Và từ giây phút này, tôi đinh ninh tình yêu gắn hai chúng tôi như đã được hứa hẹn, chúng tôi có chung ý chí, có sự đồng cảm, ý tình hòa hợp, trung thực yêu thương. 

Những ngày sau đó chúng tôi thường gặp nhau, khi thì trao đổi công việc, lúc thì họp Thường vụ. Mỗi tháng Thường vụ Thành ủy họp một lần, khi họp ở Láng Le quận Bình Chánh, đôi khi họp ngay trong nội thành Sài Gòn. Mỗi lần gặp nhau, anh và tôi lại tiếp tục trao đổi, giãi bày những điều còn chưa hiểu nhau. Có lần tôi đặt một câu hỏi, dù đã biết tấm lòng của anh:

- Tôi bây giờ không còn trẻ, văn hóa lại kém, ở cơ quan mình thiếu gì chị em trẻ đẹp, trình độ văn hóa cao, sao anh không chọn mà lại chọn tôi? Tôi thấy tôi không hợp với anh Mười đâu. Anh suy nghĩ kỹ lại đi…

Anh đáp:

- Ở chị, tôi thấy vừa là đồng chí vừa là bạn đời, đã trải qua thử thách, được trui rèn trên bước đường công tác, nếu có va vấp thì ta cùng kéo nhau đứng dậy, chia sẻ với nhau niềm vui nỗi buồn, tri thức rất cần nhưng chưa hẳn hợp ý nhau.

Mặc dầu tôi thẳng thắn đặt ra nhiều vấn đề nhưng trước sau anh vẫn giữ tấm lòng dành cho tôi.

Anh Mười là người sống nhiều về nội tâm, qua cách xử thế tôi hiểu anh có cân nhắc trong việc xây dựng hôn nhân.

Từ sự trao đổi, tìm hiểu, càng ngày anh và tôi càng biết rõ về nhau hơn. Tình yêu cũng từ đó mà phát triển mỗi lúc càng đậm đà, thắm thiết. Chúng tôi bàn với nhau sẽ tổ chức lễ thành hôn đơn giản vào một dịp thuận tiện. Và ngày ấy đã đến. Ngày 23 tháng 5 năm 1948, trong dịp Thành ủy họp hội nghị mở rộng. Anh Lê Văn Sỹ là bạn tù thân thiết ở Côn Đảo, đại diện Xứ ủy về dự hội nghị và làm chủ hôn.

Trước đó, tôi báo tin về cho má và anh chị em, hy vọng có người của gia đình lên dự, mặc dầu tôi biết đường đi rất khó khăn và nguy hiểm.

Tiệc cưới là một bữa cơm thân mật được tổ chức tại nhà anh Biện Sinh ở Gò Xoài, nay thuộc huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, có mặt đông đủ các đồng chí về dự hội nghị và bà con đồng bào nơi đóng cơ quan, cũng chính là những người góp công sức tổ chức bữa tiệc. Anh Sỹ mang về quà tặng là một trăm trái gòn khô để may gối cưới cho đôi tân hôn, nhưng đâu có vải sẵn, đành phải để đó sau này mới may.

Lễ cưới tuy đơn giản nhưng nghĩa tình sâu nặng biết bao giữa vợ chồng, bè bạn, đồng chí, bà con xóm làng, bù đắp cho sự thiếu vắng của thân nhân hai họ.

Sau lễ cưới, hai vợ chồng đưa nhau về Rạch Chanh, cũng nằm trong khu căn cứ Láng Le. Ở đây có sẵn mấy căn nhà nhỏ làm chỗ nghỉ ngơi cho các đại biểu trong thành ra công tác và dự hội nghị.

Đêm ấy nhằm 14 tháng tư âm lịch. Tôi nhớ như in: trăng tròn, ánh sáng vằng vặc trải khắp đất trời, tràn qua cửa sổ vẽ thành những vệt sáng dài trên vách lá. Bên hè, theo từng cơn gió, mấy tàu chuối đong đưa xào xạc như đang sẻ chia niềm vui mừng hạnh phúc của đôi tân hôn.

*

Hai chúng tôi đều cảm nhận đêm nay là những khoảnh khắc đáng được ghi nhớ trong cuộc sống lứa đôi. Không ai bảo ai, mỗi người đều muốn trao gởi cho người bạn đời những nỗi niềm riêng tư. Anh kể cho tôi nghe về gia đình, nhất là thời thơ ấu. Cha anh làm thầy giáo, dạy ở trường Yên Phụ, gần chợ Châu Long. Mẹ buôn hàng tấm (tơ lụa, vải khúc) bán ở ngoại thành. Chú anh là Nguyễn Đức Thụ làm việc ở nhà Douane, Hà Nội (nay là Hải quan). Anh còn người chú họ là Nguyễn Đức Hùng, làm việc ở Nhà dây thép Hải Phòng (nay là Bưu điện). Lương bổng của hai chú tương đối cao, chú nào cũng học giỏi.

Lúc lên bốn, anh thường quấn quít bên cha. Đêm đêm ông ngồi chấm bài hoặc đọc sách, anh thường nằm bên cạnh. Nhiều khi ngủ quên, lúc cha làm việc xong gọi anh dậy, dẫn đi ăn cháo hoặc ăn chè. Khi đến tuổi đi học, anh được cho học tại trường Yên Phụ. Cha yêu thương anh như thế nên khi ông mất, anh bị hụt hẫng. Mỗi khi đi học về hoặc lúc trời tối, anh nhớ cha không ngủ được, chỉ biết nằm khóc thầm. Mẹ anh bệnh hoạn luôn, sau đám tang cha, mẹ ngày càng suy yếu nên việc chăm sóc các con không được như ý muốn. Vì thương mẹ nên anh tự lo cho mình không hề than vãn. Ngoài giờ học, anh sống thui thủi, buồn hiu.

Gần một năm sau, chị anh đau nặng rồi cũng qua đời. Mới mất chồng, giờ lại mất con gái lớn, mẹ anh như cành cây héo hon, rũ lá. Anh chưa đủ lớn để an ủi mẹ, thường hai mẹ con chỉ biết ôm nhau khóc. Dù bệnh hoạn, mẹ anh vẫn phải tảo tần hôm sớm, để lo cuộc sống của gia đình. 

Thương con dâu đau yếu, những đứa cháu nghèo sớm mồ côi cha, bà nội đem anh về nuôi, vừa đỡ phần gánh nặng cho mẹ anh, vừa có điều kiện chăm sóc, dưỡng dục anh. Nội ở phố Hàng Bột với chú Thụ. Anh vẫn học ở trường cũ. Hàng ngày đi học từ trường Yên Phụ về Hàng Bột, khi đi ngang qua phố Tây (tức đường Nguyễn Cảnh Chân bây giờ) mùi thức ăn từ những ngôi nhà sang trọng ấy bay ra làm cái bụng đói meo của anh càng cồn cào thêm. Cho đến buổi sáng khi đang đi học gặp người quen báo tin mẹ anh đau nặng, anh vội chạy về nhà ở phố Hàng Thâm. Nhìn thân xác mẹ gầy nhom, nằm thiêm thiếp anh sà vào lòng mẹ khóc mướt. Bàn tay gầy, run rẩy của mẹ lần dưới gối lấy ra một cọc tiền xu trao cho anh, bà thều thào:

- Của mẹ để dành cho con, cầm lấy.

Cầm cọc tiền xu do mẹ chắt chiu dành dụm, anh ôm chầm lấy mẹ khóc nức nở. Mẹ cũng ôm đầu anh, nước mắt chảy dài trên gương mặt anh, nhưng mẹ vội đẩy anh ra, nói giọng run run:

- Hãy đứng xa ra, mẹ bị lao, coi chừng lây bệnh.

Nhưng không, anh không nỡ, vẫn ôm chặt mẹ. Hơi thở đứt quãng của mẹ làm anh đau buốt tim gan, biết mẹ đang mệt lắm, anh xoa ngực, xoa lưng mong mẹ dịu cơn ho kéo dài… Mẹ nắm tay anh gượng cười, nụ cười héo hắt.

- Không sao đâu con, đang uống thuốc, mẹ sẽ khỏe mà!

Lần đó, nhờ uống thuốc, mẹ anh cũng đỡ đôi chút, nhưng mẹ phải gắng gượng ngồi dậy thu xếp chuyển đi vì mấy tháng liền không có tiền trả tiền nhà. Mẹ và em gái anh đến tá túc ở chùa Thái Bình, làng Mai Lâm, huyên Đông Anh (Hà Nội). Khi mẹ mất, anh không được gặp mặt, chỉ nghe em gái anh kể lại, mẹ được an táng trong đất chùa này. Từ đó, bà nội đưa cả em gái anh về nuôi. Về sau anh có đến tìm thăm mộ mẹ, nhưng nhà chùa bảo khu mộ chôn mẹ anh và các sư trong chùa bị cơn lũ cuốn sạt lở xuống dòng sông Đuống. Ngày đó, anh đứng nhìn dòng sông trôi xuôi một cách vô tình. Anh nghĩ thầm: “Sông ơi, sông có biết sông đã cuốn mất hình hài của mẹ ta không? Bây giờ mẹ ta đang ở đâu sông có biết?”. Mặc cho anh đau đớn buồn thương, dòng sông vẫn chảy, chảy mãi… 

Điều anh kể làm tôi cảm động, nhất là khi bà nội anh qua đời. Năm 1928, chú Thụ đổi về Hải Phòng, cả nhà cùng theo chú, ở phố Cát Dài. Những tháng ngày sống với nội, anh được bà yêu thương chăm sóc chu đáo. Chú Thụ cho anh vào học ở trường Bonnan(2). Mỗi chiều đi học về, anh ăn cơm với nội. Ăn cơm xong, bà nội cho đi chơi đến 7 giờ, sau đó học bài đến 8 giờ. Học xong, anh đọc truyện cho nội nghe, bà thích nhất là Truyện Kiều. Nội bảo anh nằm mà đọc, như vậy khi buồn ngủ thì ngủ luôn. Thỉnh thoảng, nội nghiêng đầu hôn lên trán, lên tóc anh. Tình thương của nội làm anh vô cùng ấm áp. Vì thế, đôi khi chưa buồn ngủ, anh cũng giả vờ ngủ để được nội hôn.

Năm 1929, tức năm anh được 14 tuổi, bà nội anh qua đời. Anh đau buồn, luôn luôn thấy thiếu vắng và trống trải. Mỗi chiều đi học về, anh bỏ cặp lên bàn rồi vô giường nội nằm úp mặt khóc. Chú Thụ thấy vậy cũng rất thương, chú nói:

- Bà nội mất rồi, ai cũng đau xót. Nhưng con làm vậy, dưới suối vàng nội cũng buồn. Gắng mà gượng lên, có thương nhớ bà hãy ráng học cho giỏi để đền ơn bà.

Nghe lời chú khuyên dạy đầy tình nghĩa, nhưng trong anh nỗi đau buồn khó vơi được. Trong vòng chỉ có mấy năm, anh liên tiếp mất cha, mất chị, mất mẹ, rồi bây giờ nội cũng ra đi, điều bất hạnh sao cứ dồn dập đến với anh như vậy?

Thấy anh buồn và khóc hoài, chú Hùng bảo anh về nhà chú ở, chú có ba bốn người con, về cùng đi học cho có anh có em. Chú Thụ thấy như vậy cũng hợp lý nên đồng ý.

Dân gian có câu: “Mất cha níu chân chú, mất mẹ bám vú dì”, từ nay anh coi chú như cha, sắp xếp quần áo, sách vở vào một cái va li mây, khỏi phải đem chăn màn, vì chú Hùng bảo về đó anh ngủ chung với các em.

Trao gởi chuyện riêng tư của mỗi người, anh cởi mở kể chuyện mối tình đầu “đơn phương” của anh. Trong những năm về ở nhà chú Hùng, tháng ngày trôi qua, anh sinh lòng để ý đến một người con gái tên An, cùng học chung trường, dưới anh một lớp. Cô có dáng mảnh khảnh, da trắng, tóc dài, hàng ngày đi học phải qua nhà anh. Không biết từ lúc nào, anh thấy phải chờ An đi qua rồi mới lững thững theo sau để trộm nhìn cái lưng thon, suối tóc mượt, dáng đi đằm thắm của cô. Hôm nào không thấy An đi qua, anh lại thấy nhớ. Lượt đi học về cũng vậy, lần nào ra trước, anh ghé một tiệm sách gần trường chờ. An đi qua, anh mới đi sau. Họa hoằn lắm mới thấy mặt. Gặp mặt lòng rộn ràng, cứ ngập ngừng chẳng biết bắt chuyện như thế nào. Chỉ vậy thôi!

Kể xong “chuyện tình đơn phương” ở tuổi học trò, anh nhìn tôi và chậm rãi hỏi:

- Đó, mối tình đầu của anh là vậy đó, em thấy thế nào?

Tôi nhìn anh nói nhỏ:

- Càng tin và càng thấy thương anh hơn.

Thấy anh xúc động, tôi không cầm được nước mắt, cảm thương hoàn cảnh anh, thuở thiếu thời nhiều bất hạnh, côi cút không được như tôi.

Gạt những giọt nước mắt tuôn trào, tôi thấy phải hỏi anh:

- Nghe nói là người cộng sản thì không được khóc phải không?

Anh đáp mà không giấu được chính anh cũng đang khóc:

- Có chứ. Người cộng sản nếu có khác người thường là khác ở chỗ biết lúc nào phải lau nước mắt!

Gà đã gáy, câu chuyện tâm tình chưa dứt được. Tôi kể chuyện về tôi cho anh nghe, kể tất cả, không che giấu điều gì. Từ lúc còn nhỏ, đi tu thế nào, gặp cách mạng ra sao, nhất là việc anh Quản Trọng Hoàng cầu hôn, rồi chuyện đám hỏi, chuyện bị bắt, bị tra tấn trong tù, chuyện gia đình ba má, chuyện mấy anh chị em tôi…

Trong bảy ngày đêm đầu, đêm nào cũng vậy, cứ kể cho nhau nghe, trời sáng mà vẫn chưa hay biết.

Ngày tháng bên nhau sao mà nhanh quá, lụi hụi đã qua đầu tháng 6 rồi, tôi phải lên đường đi dự hội nghị phụ nữ Nam Bộ, còn anh trở lại công tác với bao khó khăn mới đang chờ. Chia tay rồi, đây là vợ chồng lần đầu chia tay nhau, những kỷ niệm tính từng ngày trong cuộc sống lứa đôi cứ đeo đẳng theo tôi, khiến tôi ngẫm ra sức mạnh như thế nào của tình yêu!♦


____

* Đầu đề là của Hồn Việt.

(1) Tiếng sóng bủa ghềnh (NXB Trẻ, 2011).

(2) Trường Bonnan nay là trường Ngô Quyền.

NGÔ THỊ HUỆ