Tổng bí thư Lê Duẩn qua hồi ức người thân

L.T.S: Lê Duẩn là tổng công trình sư của công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ông có tầm nhìn toàn cục, ý chí kiên định, xứng đáng là người thống soái, người đứng đầu của cuộc chiến đấu lâu dài, ác liệt, phức tạp…, không cân sức đối với một siêu cường hùng mạnh nhất thế giới. Từ những năm chiến đấu chống thực dân Pháp ở chiến trường Nam Bộ, tiếp đến những năm đương đầu với những trận khủng bố diệt Cộng, đã hình thành trong ông con đường của Cách mạng miền Nam, cách mạng Việt Nam.

Nghị quyết 15 của Trung Ương Đảng mở ra trận chiến đấu mới. Trong tình hình quốc tế hết sức phức tạp lúc đó, ông đã tranh thủ thời cơ, lực lượng; tìm được sự ủng hộ mạnh mẽ có hiệu quả của Liên Xô, Trung Quốc, của toàn phe Chủ nghĩa Xã hội và của các dân tộc khác. Vận dụng linh hoạt chiến lược; đánh và đàm, tiến công và nổi dậy, kết hợp nông thôn và thành thị, miền Bắc và miền Nam… Ông là nhà chiến lược đại tài, xứng đáng với sự chọn lựa kế nghiệp của Bác Hồ vĩ đại.

Dĩ nhiên, trong chiến tranh không thể nào tránh khỏi một số tính toán chưa thật sát với thực tế. Sau chiến tranh, tình hình lại có những phức tạp mới, ông và Bộ Chính trị, Trung Ương, phải đối phó với những vấn đề gay cấn mới trong nước và quốc tế. Đi theo một mô hình cũ, thay thế tư duy biện chứng trong chiến tranh bằng tư duy giáo điều có quá ít kinh nghiệm và sự quan sát về việc điều chỉnh ở các nước phát triển, ông và các nhà lãnh đạo đã đưa nền kinh tế nước ta lúc đó đứng trước những khó khăn chồng chất.

Công cuộc đổi mới sau đó và kết quả của nó đã đem lại cho đất nước thế và lực mới, tuy lại phải đối diện với các vấn đề gay cấn khác. Đồng thời, cũng phải nhìn nhận là từ động cơ đến hành động - trong đó có việc tiến hành xây dựng cơ sở vật chất của Chủ nghĩa Xã hội (như các nhà máy điện Hòa Bình, Liên doanh dầu khí Việt - Xô…) - ông vẫn là một người tuyệt đối trung thành với nhân dân, Tổ Quốc và sự nghiệp mà ông theo đuổi.

Nhân ngày 30/4 – kỷ niệm ngày thống nhất đất nước, chúng tôi trích đăng dưới đây một số đoạn hồi ức về ông của những người thân trong gia đình. Còn nghiên cứu, đánh giá sâu sắc, công minh toàn bộ sự nghiệp của ông lại là một việc khác, với điều kiện các tư liệu được công bố đầy đủ.

*

MINH BẠCH THÔNG TIN LÀ MỘT CÁCH SÒNG PHẲNG VỚI LỊCH SỬ

LÊ KIÊN THÀNH

Tôi vẫn đối diện với những lời đồn về cha mình trên dưới 50 năm nay. Nhưng tôi tự hào về ông vô cùng vì tôi hiểu rằng, một người đàn ông có thể diễn kịch với cuộc đời nhưng chân dung họ hiện lên trong mắt con cái là chân thực nhất. Cha tôi không phải là người toàn bích nhưng trong thời bình, nhiều người cấp tiến, những người mà sau này người ta được đánh giá là có tư duy bài bản về kinh tế thị trường tương đối sớm vẫn gọi những ý tưởng của cha tôi là: “Ý tưởng từ cái đầu 200 ngọn nến”.


Đồng chí Lê Duẩn xem lại Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV tại phòng làm việc ở nhà số 6 đường Hoàng Diệu, tháng 12-1976. Ảnh TL.

Tôi tin rằng, những câu chuyện như thế này, nhiều người chưa nghe, chưa biết nhưng những người trong cuộc thì họ vẫn còn sống, và tôi chắc chắn rằng họ sẽ thầm nghĩ trong đầu: “Đúng, những chuyện về anh Ba như vậy là có…”. Vâng, tôi chỉ cần như vậy.

… Có lần, cha tôi cử một cán bộ ngoại giao sang Mỹ tìm hiểu để sau đó bàn chuyện bình thường hóa quan hệ, người đó đi thấy ngợp quá nhưng về lại sợ “anh Ba cho là ăn phải bả tư bản” nên chỉ kể toàn chuyện xấu. Cha tôi nghe xong, cười bảo: “Mỹ nó xấu thế mình quan hệ làm gì…?”. Sau đó, ông ta đành phải nói những gì mắt thấy tai nghe.

Đi thăm một địa phương tương đối năng động lúc đó, tại Hợp tác xã chăn nuôi, nhìn thấy hàng chục người ngồi thái rau nuôi mấy con lợn còi, cha tôi nói với người đứng đầu: “Cậu hiểu thế nào là làm ăn lớn? Làm ăn lớn là mỗi người nông dân có thể nuôi hàng ngàn con gà, hàng trăm con lợn chứ không phải tập trung nhiều người để làm…”. “Nhưng Trung Ương chỉ đạo khác…” - ông ta thành thật.

Cha tôi nói: “Tỉnh cậu có điều kiện để làm mô hình đổi mới, cậu lại có tư duy kinh tế sáng tạo, sao cậu cứ chần chừ. Mỗi nơi một đặc thù. Các địa phương phải chủ động rồi báo cáo, đôi khi từ mô hình này tốt mà làm điểm cho cả nước. Trung Ương chỉ đạo thay được các địa phương từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn thì cần gì các cậu nữa…”.

Một lần, về Hải Phòng, đến thăm một Hợp tác xã làm hàng xuất khẩu, cha tôi hỏi một cô công nhân: “Cháu có biết đồng đô-la là gì không?”. Cô ta lắc đầu. Cha tôi đã nói với Chủ tịch Hải Phòng lúc đó: “Người làm xuất khẩu mà không biết đồng đô-la là gì thì họ sẽ không có động lực…”. Đó là giai đoạn ta đương đầu Mỹ quyết liệt nhất.

Người ta vẫn nói rằng, vì cha tôi mà quan hệ Việt Nam và Trung Quốc xấu đi. Thế nhưng, có lẽ họ không biết, năm 1961, tại Đại hội 81 Đảng Cộng sản tổ chức tại Mátxcơva, Khrushchev đưa ra những ý kiến phê bình gay gắt Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Tại cuộc họp đó, duy nhất Đảng Lao động Việt Nam mà cha tôi là trưởng đoàn, đứng lên phản đối. Sau đó, đại diện Đảng Cộng sản Pháp có đến gặp cha tôi và nói: “Các đồng chí Việt Nam chỉ biết có quyền lợi dân tộc mà xao nhãng tinh thần quốc tế vô sản”. Cha tôi trả lời: “Tinh thần quốc tế vô sản lớn nhất bây giờ là chống Mỹ, các đồng chí hãy để chúng tôi làm việc đó”.

Xa hơn nữa, ít ai biết, cố Tổng Bí thư Lê Duẩn là người có quan hệ trực tiếp nhất và cao nhất với hai chiến sĩ tình báo cao cấp Phạm Xuân Ẩn và Đặng Trần Đức (bí danh Ba Quốc). Cả hai người ẩn sâu trong lòng địch đến mức cả hai đều gửi yêu cầu về “anh Ba Duẩn” đề nghị khử người kia đi vì “nguy hiểm cho cách mạng…”.

Rất nhiều câu chuyện như vậy về cha tôi mà không nhiều người biết. Những người biết, họ từng biết tính cha tôi, rằng không cần lắm việc người ta phải ghi công trạng của mình hoặc hiểu mình, miễn là chúng tôi – những người con của ông đã tin, yêu và tự hào về ông.

NGƯỜI THỂ HIỆN BẢN LĨNH DÂN TỘC

Tôi cầm lại cuốn sổ nhật ký màu xanh đen của ông lúc sinh thời. Có trang chỉ là những ký hiệu, những chữ không đủ nghĩa, những câu ngắn gọn, khó hiểu, những tên người được viết tắt… Nhưng với tôi, đó là những con chữ biết nói. Và tôi như được truyền ngọn lửa ý chí quyết tâm mãnh liệt vì những mục đích cao cả của cha…

Có một nhà báo từng hỏi tôi: “Anh có đau khổ khi nghe những lời đồn đại ác ý về cha mình, khi có những người đã không hiểu đúng về Tổng Bí thư Lê Duẩn như những gì ông có và đáng được hiểu đúng?”.

Khi nghe những câu đại loại như vậy, tôi thấy nhớ và thương cha rất nhiều. Và cũng biết rằng, mình đã hiểu ông nhiều hơn những gì ông nghĩ là tôi có thể chia sẻ. Cha tôi không bao giờ thấy buồn vì ai đó không hiểu, hoặc không hiểu đúng suy nghĩ và hành động của mình. Ông chỉ tâm niệm một điều: “Những gì mình đã cho là đúng thì phải quyết tâm làm bằng được, dù có khó khăn đến đâu…”.

Bản lĩnh sống đó của cha tôi được thể hiện một cách rõ ràng và mạnh mẽ nhất ở quyết tâm thống nhất đất nước và giữ vững độc lập dân tộc. Hạnh phúc hay đau khổ của ông đều nằm ở đó. Những mối quan tâm và những quan hệ riêng, chung của ông cũng đều vì mục tiêu cao cả này.

… Năm 1965, trong cuộc họp với ba lãnh đạo Liên Xô lúc đó là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Brêgiơnep, Chủ tịch Xô Viết tối cao Podgonưi, Thủ tướng Koxưgin về tình hình cuộc chiến với Mỹ của Việt Nam, Podgonưi đã phản đối gay gắt việc Việt Nam tiến hành chiến tranh vũ trang để thống nhất đất nước vì “Mỹ rất mạnh, Việt Nam không thể thắng Mỹ…”.

Cha tôi kể rằng, lúc đó ông đã nổi nóng: “Nhất định chúng tôi phải đánh Mỹ và thắng Mỹ. Nếu các đồng chí ủng hộ, có thể chúng tôi chỉ chết có một triệu người. Nếu các đồng chí không ủng hộ, chúng tôi có thể hi sinh nhiều người hơn nữa. Nhưng chúng tôi phải thực hiện được mục tiêu cuối cùng là thống nhất đất nước”.

Quyết tâm đó của ông bắt nguồn từ việc am hiểu tình hình thực tế chiến trường miền Nam và việc nắm bắt ý nguyện cháy bỏng, khát khao của đồng bào miền Nam lúc đó, rằng không thể thống nhất đất nước thông qua giải pháp hòa bình bởi Mỹ và chính quyền miền Nam không hề có ý định thực hiện hiệp định Genève.

Quyết tâm đó đã nung nấu từ khi cha tôi chia tay con tàu chở mẹ mang thai tôi ra miền Bắc để quay trở lại chiến trường miền Nam với lời nhắn gửi: “Ông chúc sức khỏe mọi người và nói anh Sáu Thọ (Lê Đức Thọ): Cho tôi gửi lời chúc sức khỏe đến Bác Hồ và các anh ở ngoài đó, có thể 20 năm sau mới gặp nhau…”.

Năm 1957, sau khi được Bác Hồ gọi ra Hà Nội, cha tôi là người được Bác Hồ và Bộ Chính trị giao cho việc chỉ đạo soạn thảo Nghị quyết 15. Tháng 1/1959, Nghị quyết 15 – “ngọn lửa giữa cánh đồng khô”, khí thế của cách mạng miền Nam lúc đó – ra đời. Đó là sự đồng thuận của toàn Đảng, toàn dân về cách mạng miền Nam, là chỉ giành thắng lợi cuối cùng, thống nhất đất nước thông qua con đường đấu tranh vũ trang.

Kết quả này đã thể hiện một phần bản lĩnh của cha tôi, đặc biệt trong ứng xử ngoại giao mà quan trọng nhất là với hai người bạn lớn của nước ta lúc đó là Liên Xô và Trung Quốc. Khi đã vượt qua sự khó khăn ban đầu bằng tinh thần độc lập tự chủ và thái độ cương quyết, về sau, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ toàn diện và mạnh mẽ của hai nước.

… Năm 1972 là một năm đầy thử thách với tiến trình thống nhất đất nước của Việt Nam. Trong cuốn nhật ký của cha tôi có ghi lại vài dòng nhưng đủ để tôi nhớ và hình dung lại những gì diễn ra trong năm đó liên quan đến câu chuyện mà cha tôi kể lại. Ở đó, bản lĩnh người lãnh đạo tối cao của đất nước đã thể hiện bản lĩnh của một dân tộc… Và đủ để tôi cảm nhận sự khắc khoải, đau đớn về những gì trải qua trong cái năm đầy cam go, thử thách ấy và quyết tâm dữ dội của ông về hai chữ độc lập, tự do của dân tộc.

Trước khi Nixon có cuộc đàm đạo với lãnh đạo Trung Quốc, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai sang Việt Nam, gặp cha tôi ở Gia Lâm. Thủ tướng Chu Ân Lai nói với cha tôi ý là Trung Quốc và Nixon sẽ có cuộc bàn thảo về vấn đề Việt Nam.

Cha tôi kể rằng lúc đó ông đã lập tức nổi nóng: “Nước Việt Nam là của người Việt Nam, không ai có thể quyết định được vận mệnh của dân tộc này thay chúng tôi. Nếu Mỹ muốn bàn về Việt Nam thì sang Việt Nam mà bàn với chúng tôi, tại sao bàn với các đồng chí và tại Trung Quốc? Đồng chí có biết, năm 1954, khi cảm nhận được rằng, Việt Nam đã bị ép ký hiệp định Genève, tôi đã khóc ròng trên đường từ miền Bắc quay trở lại miền Nam vì biết rất rõ rằng, rồi đây máu của đồng bào tôi sẽ đổ hàng chục năm trời? Và sau đó thì các đồng chí đã thấy đó, sau hai năm theo như thỏa thuận là “hòa bình sẽ được lập lại”, máu của đồng bào tôi đã đổ cho tới bây giờ…”.

Cha tôi kể rằng, trước sự nổi nóng của ông, Thủ Tướng Chu Ân Lai đã tỏ thái độ xin lỗi.

Sau khi gặp Nixon, Thủ tướng Chu Ân Lai có sang Việt Nam thông báo tình hình rồi sẽ thế này, thế khác. Sau khi nghe xong, cha tôi nói: “Tôi chỉ biết trước một điều là sau khi Nixon gặp các đồng chí, Mỹ sẽ đánh chúng tôi gấp 10 lần…”.

Dự đoán đó đã đúng. Sau đó, Mỹ đã rải bom khắp các thành phố lớn và làng mạc miền Bắc…

Cha tôi đã không ngăn được điều này nhưng ông đã thể hiện bản lĩnh và ý chí của cả dân tộc lúc đó và tâm nguyện lớn lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dù có đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải giành được độc lập, tự do”.

Và khát vọng đó đã trở thành hiện thực vào ngày 30/4/1975.

Tôi rất tự hào về ông, Tổng bí thư Lê Duẩn, người có vị trí quan trọng trong thế kỷ XX – thế kỷ nhiều đau thương và anh hùng của dân tộc Việt Nam, người đã thể hiện được bản lĩnh và khát vọng độc lập tự do của một dân tộc nhỏ bé mà kiên cường, bất khuất.

*

BA TÔI – LẼ PHẢI VÀ TÌNH THƯƠNG

LÊ THỊ MUỘI

11 giờ đêm ngày 29/4/1975 gia đình tôi có khách, anh Lê Hữu Đức, cán bộ Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu và một người nữa… Cho đến, 29/4/ 1975, tình hình chiến sự miền Nam đã thực sự nóng bỏng và đáng phấn khởi lắm. Thời gian này anh Đức hàng ngày vẫn đến báo cáo tình hình và xin chỉ thị của ba tôi, nhưng anh thường đến vào lúc chập tối. Sự xuất hiện lặng lẽ vào lúc muộn màng của hai vị khách hẳn nhiên liên quan đến một quyết định rất hệ trọng của chiến dịch tháng Tư này? Ba tôi và hai vị khách trao đổi bàn bạc điều gì đó, tôi không thể biết được vì đó là việc quân cơ.

Đêm lạ lùng và bất thường đó rồi cũng trôi qua. Sáng ra tôi lại phải tới Viện. Gần trưa thì hay tin ta đã chiếm Dinh Độc Lập. Quên phắt cả sự tồn tại của phương tiện thông tin, như một người cổ sơ, tôi hấp tấp ra Viện phóng nhanh xe máy về nhà và lao thẳng vào phòng ba tôi.

Ở đây, một mình ba tôi đang ngồi lặng lẽ… Vẫn lặng lẽ, Người ngước mắt cười với tôi, rồi nước mắt bỗng trào ra từ đôi mắt thân thiết luôn ngời sáng trong tôi. Tôi đăm đăm nhìn đôi dòng nước mắt chảy dài trên nụ cười mãn nguyện của ba… Đã lặng lẽ, căn phòng lại càng lặng lẽ hơn. Đột nhiên, tôi thấy thời gian như ngưng lại và ánh sáng trong căn phòng cũng không còn là thứ ánh sáng thông thường của trời đất nữa.

Thật lạ lùng những cảm giác mà sự ngưng đọng này đã đem tới, nó trong suốt, tinh khiết và quá đỗi tuyệt vời, nó chưa bao giờ xuất hiện trong tôi và cũng không một lần trở lại… Trong cảm giác này, tôi thấy, dường như mình đủ sức để hiểu thấu cả nụ cười, đôi dòng nước mắt, cả thứ ánh sáng linh thiêng kỳ diệu của niềm hạnh phúc tột cùng đã từ ba tôi tràn khắp căn phòng.

… Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của ba tôi để đi đến cái đích mùa Xuân năm 1975, Bác Hồ giữ một vai trò vô cùng quan trọng. Năm 1931, ba tôi được cử vào Ban Tuyên huấn Xứ ủy Bắc Kỳ. Đầu năm 1937, Người là Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ. Năm 1939 là Ủy viên Thường vụ Trung Ương Đảng, ba tôi đã sát cánh bên Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ… Vậy mà mãi tới năm 1946, sau Cách mạng tháng Tám, ba tôi mới gặp Bác Hồ. Cuộc gặp gỡ xem chừng có vẻ muộn màng, nhưng với tầm nhìn chiến lược của người lãnh đạo tối cao, Bác đã thấy ở ba tôi những phẩm chất cách mạng quý báu.

Ngoài việc là người duy nhất trong các nhà lãnh đạo cấp cao đã lăn lộn giữ các cương vị trọng trách của Đảng ở ba miền Bắc – Trung – Nam, ba tôi còn tỏ ra rất sắc sảo nhạy bén. Có thể nói, ba tôi đã được Trung Ương Đảng và Bác tin cậy tuyệt đối khi trao trọng trách Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung Ương Đảng năm 1960. Tin tưởng thì thương yêu và chăm nom. Bác Hồ có một người nấu ăn rất giỏi, đó là bác Cẩn, biết cách nấu những món ăn ngon mà lại rẻ. Có một thời gian khoảng một vài tháng tôi không nhớ rõ.

Theo lệnh Bác Hồ, bác Cẩn đã nấu thêm một xuất buổi trưa đưa sang cho ba tôi. Có một lần, ba tôi ốm, Bác biết, sang ngay số 6 phố Hoàng Diệu thăm. Bác không vào phòng khách, cứ ngồi dưới cầu thang chờ vị bác sĩ khám cho ba tôi xuống để hỏi ngay tình hình… Sự quan tâm này chứa đựng những tình cảm vô cùng sâu sắc. Và tôi nghĩ, với ngày 30/4/1975, ba tôi đã không phụ lòng tin và những tình cảm của Bác Hồ…